[Update] Kinh Lương Hoàng Sám | hoàng sam – Diaochoangduong

hoàng sam: คุณกำลังดูกระทู้

Kinh Lương Hoàng Sám là gọi tắt của Lương Hoàng Bảo Sám. Đây là Đệ Nhất Sám Văn do Chí Công Thiền Sư biên soạn, bao gồm 10 quyển, siêu tuyệt cổ kim. Ngài Chí Công là bậc thị hiện, lại lúc soạn sám văn này được Bồ Tát Di Lặc âm thầm trợ giúp và ban tên là: “Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp”.

Ngài Quả Khanh bảo: “Ý nghĩa sám là: Dùng hình thức này giúp mọi người đồng tu, hằng giữ chính niệm, giờ giờ khắc khắc luôn phản tỉnh kiểm soát bản thân. Nhờ chí thành sám hối, dẹp trừ chướng ngại mà được thanh lương. Bộ “Lương Hoàng Bảo Sám” này sau khi siêu độ được hoàng hậu Hy Thị thu được kết quả vi diệu rồi, thì trải qua nhiều đời, vẫn tiếp tục phát huy uy lực, chiêu nhiều cảm ứng thần kỳ. Do vậy mà được tôn là Bảo Sám. Vì vậy “Lương Hoàng Bảo Sám” chứa ân huệ vạn ngàn, đức trùm thiên thu”, công đức sám hối, tán thán không sao hết được!”

 

Kinh Lương Hoàng Sám

Kinh Lương Hoàng Sám – Lời Giới Thiệu

Phàm là người sanh trong cõi Dục này, trừ các bực đã hoàn toàn giác ngộ, thì không một ai tránh khỏi lỗi lầm, bởi ba nghiệp gây nên. Các tội lỗi đã từ ba nghiệp phát sanh, nên người muốn dứt trừ hết tội lỗi, tất nhiên phải đem ba nghiệp ấy để sám hối, thì tội lỗi mới được thanh tịnh. 

Phật dạy: “Nếu không có phương pháp sám hối thì, tất cả các Phật tử không một ai mà được giải thoát”.

Cũng như, nếu không nhờ bộ Lương Hoàng Sám nầy thì, bà Hy Thị là Hoàng hậu của vua Lương không làm sao thoát khỏi khổ nạn được. Vì thế nên bộ Lương Hoàng Sám nầy có một hiệu lực mạnh mẽ, làm cho người có tội lỗi được tiêu trừ, phước lành tăng trưởng. 

Cảm thấy sự phiên dịch của Ðại đức Thích Viên Giác rất dày công phu, nên tôi xin có vài lời giới thiệu đến toàn thể các Phật tử xa gần và hy vọng rằng, bộ Lương Hoàng Sám này được phổ biến mười phương và sẽ đem lại sự lợi lạc chung cho tất cả; nếu ai có tín tâm thật hành theo. (Hòa Thượng Thích Thiện Hòa)

*

Kinh Lương Hoàng Sám – Lời Tựa

Theo lời tựa trong chánh văn thì bộ Lương Hoàng Sám này do Hòa thượng Chí Công biên tập từ đời Vua Lương Võ Ðế bên Tầu. Nguyên Vua Lương Võ Ðế, có một bà Hoàng hậu yêu quý nhất tên là Hy Thị. Vì được vua yêu quý nên lòng đố kỵ của bà ngày càng lên cao; Hy Thị ganh tị các cung phi, độc ác với mọi người và hủy báng Tam Bảo. Trong Triều ngoài Quận ai cũng biết Bà Hy Thị là một “quái phi”.

Sau bà nhuốm bệnh nặng, các lương y đều thúc thủ, bà phải từ trần. Một hôm vào lúc đêm khuya, đang ngồi trong cung tịch mịch. Vua Lương Võ Ðế nghe tiếng người kêu van thảm thiết.

Dưới ánh đèn mờ, Vua Lương Võ Ðế lạnh cả người, muốn chạy trốn, nhưng không được. Vua bèn lên tiếng hỏi: “Ngươi là ai mà đêm khuya thanh vắng nghiêm mật thế này lại vào đây được?” – Hoàng đế ơi! Thiếp đây chính là Hy Thị. Vì quá độc ác nên chết rồi thiếp phải đọa làm rắn mãng xà. Ngày đêm đau khổ, thân thể tanh hôi, vi vẩy đều bị sâu trùng rúc rỉa nhức nhối không thể chịu được.

Nhớ lại tình cầm sắc xưa kia nên thiếp đến đây mong nhờ Hoàng đế tìm phương cứu thiếp. Nói rồi biến mất. Nghe xong, Vua Lương Võ Ðế như thoát cơn ác mộng và lòng đau như dao cắt! Ngày hôm sau, khi lâm Triều, Vua kể lại chuyện ấy cho bá quan nghe để tìm phương cứu vớt Hy Thị.

*

Trong số các quan có người đề nghị: Xin cung thỉnh Hòa thượng Chí Công lo việc này. Vua lương Võ Ðế chấp thuận. Hòa thượng Chí Công là một cao tăng đắc đạo đương thời. Thể theo lời thỉnh cầu của nhà Vua, ngài liền triệu tập các danh tăng soạn ra Sám Pháp này và lập Ðàn tràng làm lễ sám hối cho Hoàng hậu Hy Thị.

Nhà Vua chí tâm, thân hành lễ bái. Vài hôm đầu, người ta nghe có mùi hương lạ thơm nức, ngào ngạt khắp cả đạo tràng.

Lễ tụng đến quyển thứ năm, ngay tại chỗ, trên không trung, Vua Lương Võ Ðế nghe có tiếng của Hy Thị. Bà hiện thân thiên nữ đẹp đẽ, nói tiếng người, tỏ lòng cám ơn Hòa thượng Hoàng đế. Hy Thị cho biết, nhờ công đức sám hối, bà đã thoát nạn và đã sanh lên Ðao Lợi Thiên Cung. Từ đó Sám Pháp này được truyền tụng khắp nơi, rất thạnh hành.

Bản chánh bằng Hán văn trọn bộ 10 quyển. Danh hiệu Phật và lời sám đều rút trong Tam Tạng Thánh giáo Ðại thừa.

Năm 1948 – 1950, Bồ tát giới Tuệ Nhuận và một số đạo hữu khá đông ở Bắc việt đã dịch âm ra Việt văn, thành 2 tập.

*

Năm 1952, lúc còn tu học ở Phật học viện Báo quốc Huế, tôi bắt đầu dịch nghĩa bộ này ra tiếng Việt, đến nay mới đủ cơ duyên xuất bản. Tôi nguyện xin nhờ công đức phiên dịch này, hầu mong đền đáp lại bốn ơn muôn một và cứu giúp muôn loài phần nào.

Tôi nguyện xin nhờ công đức phiên dịch này, hầu mong giúp hàng sơ cơ một phương pháp tu hành giản dị để cải ác tùng thiện, để đi Tây phương về Lạc Quốc.

Tôi nguyện xin nhờ công đức phiên dịch này làm cho người tu hành ngày càng tinh tiến, nghiệp chướng chóng tiêu trừ, thân tâm thường an lạc và sở cầu được như nguyện.

Tôi cũng xin cầu nguyện cho tất cả người thấy, người nghe, người hủy báng, người tùy hỷ, đều được lợi lạc, thoát khổ não, và nguyện xin cho tất cả chúng sanh xả ly tà kiến, biết sám hối.

*

Kinh Lương Hoàng Sám – Sám Hối Nghĩa Là Gì

Kinh dạy: “Sám là sám kỳ tiền khiên. Hối là hối kỳ hậu quá.” Sám là ăn năn các việc ác đã làm, thề xin chừa bỏ, không dám tái phạm. Hối là hối cải. Những điều ác chưa làm, sau này xin thề nguyện không bao giờ làm nữa. Bao nhiêu điều thiện xin làm hết.” Chữ Phạn gọi là Sám ma; Tàu dịch là hối quá; ghép cả hai chữ lại mà đọc là Sám hối.

Sám hối cũng có Sự sám và Lý sám.

Sự sám tức là thiết lập Ðàn tràng, trang nghiêm Phật tượng, cúng dường hương hoa, ân cần đảnh lễ, thành khẩn nguyện cầu tam nghiệp như nhất, tỏ bầy tội lỗi. Cầu xin chư Phật, chư đại Bồ tát phóng hào quang, dùng thần lực, gia hộ cho kẻ tu hành mau tiêu trừ nghiệp chướng, chóng thoát oan khiên, sạch hết tội lỗi.

Lý sám là sám hối tự tâm

Tội thành do tâm tạo

Tội diệt phải do tâm sám;

Tâm không thì tội cũng không,

Tội diệt thì tâm cũng diệt.

Tội không, tâm diệt thì không còn gì nữa mà sám hối.

Như vậy mới là chân thật sám hối.

*

Sau khi lạy một lạy, tụng một câu, người tu hành nên xét lại tự tâm, diệt sạch vọng tưởng, quán lý vô sanh, phải biết tội do nhơn duyên mà thành, thì tội cũng do nhơn duyên mà diệt. Nhơn duyên là những điều kiện tạo nên tội và phương pháp sám hối.

Tội vốn không thật có. Vì không thật có, nên chúng ta có thể chuyển tội thành phước, chuyển khổ thành vui, chuyển mê thành ngộ.

Khi xướng một câu danh hiệu Phật, chúng ta cần phải thật hiểu nghĩa lý danh hiệu ấy. Hiểu để tu tập, để làm theo những đức tánh cao đẹp của chư Phật.

Ví như chúng ta xướng câu. “Nam mô Phổ Quang Phật”, thì ít ra chúng ta cũng phải hiểu sơ như thế này:

Chúng con xin kính lễ (Nam mô) đấng giác ngộ hoàn toàn (Phật) đầy đủ đức tánh cao rộng đẹp đẽ (Phổ) sáng suốt vô biên (Quang).

Ngoài ra chúng ta cũng cần tìm hiểu thêm bản tâm của chúng ta. Tâm của chúng ta cũng có những đức tánh cao rộng đẹp đẽ như thế.

*

Nam Mô – Nghĩa là quy y, kính lễ, v.v…

Phổ – Nghĩa là phổ cập, phổ biến, cùng khắp, không có giới hạn, ngoài thời gian và không gian, không phân biệt người và ta. Trái lại Phổ có nghĩa hàm súc những đức tánh từ bi hỷ xả với tất cả mọi loài, mọi vật, mọi chốn, mọi nơi. 

Tâm ta cũng có những tánh chất phổ biến như thế. Từ nay ta phải sống theo tiếng gọi của cõi lòng, không tiêu cực mà tích cực, không ích kỷ mà vị tha, không sân hận mà từ bi, không xan tham mà bố thí, không tật đố mà hỷ xả, không ngu si mà trí huệ.

Quang – Nghĩa là sáng suốt tuyệt đối, soi khắp mười phương, thông suốt ba đời mà không lìa nơi một niệm. Tội nhơn và khổ quả của chúng sanh đã gây tạo và sẽ chịu đền trả, từ bao giờ, ở nơi đâu, nhất nhất đều sáng tỏ, hiểu biết hết.

Tâm ta có tính cách sáng suốt như vậy, từ nay trở đi, ta phải hành động, ăn ở theo tâm tánh sáng suốt ấy, không còn ngu si mê mờ mà tạo tội nữa.

Phật – Là đấng giác ngộ hoàn toàn, ta đang kính lễ. Phật cũng tức là tâm sáng suốt thanh tịnh, đầy đủ muôn đức tánh tốt đẹp, trùm khắp pháp giới, ra ngoài thời gian. 

Tâm ta cũng có những khả năng giác ngộ, những đức tánh như Phật. Vậy từ nay trở đi ta phải noi gương Phật, sống cách sáng suốt, đầy đủ đức hạnh như Phật, không tạo tội nữa.

*

Ðại khái như thế, cứ theo từng danh hiệu một mà quán sát tự tâm để sám hối.

Lần lần những khả năng tốt đẹp trong tâm ta do sự sám hối sẽ lưu xuất ra; nào là từ bi hỷ xả, trí huệ, phước đức hạnh phúc dồi dào tuôn ra như nước, mặc sức ta thọ dụng. 

Người hiểu được và làm được như thế là người chánh kiến, không còn bôn ba chạy theo ngoại cảnh, không tà kiến quy y theo quỷ mị tà thần. 

Người chánh kiến chỉ biết quy y, lễ bái, tôn thờ đức Phật ở tự tâm, nghe tiếng nói của cõi lòng.

Lễ một đức Phật tức là lễ hết thảy mười phương chư Phật. Ðem tâm từ bi bình đẳng, sự lý viên dung, trùng trùng vô ngại mà bái sám thì lo gì tội không diệt, phước không sanh.

Nếu người không thông lý, cứ y sự mà tu hành, chí tâm bái sám thì cũng nhờ được thần lực của Tam bảo gia hộ mà tiêu trừ nghiệp chướng, như trong chánh văn đã thuật rõ.

Phật dạy: “Có hai hạng người mạnh nhất: Một là không tạo tội, hai là biết ăn năn” 

Phật dạy: “Nếu không có pháp sám hối thì tất cả đệ tử Phật không thể giải thoát”.

Nhờ sám hối nên vua A Xà Thế phạm tội ngũ nghịch (giết cha) liền được giải thoát. Ông Trương Thiện Hòa sát sanh vô số cũng không đọa địa ngục, vì biết hối hận.

*

Có một điều đáng chú ý nhất là thân nghiệp và khẩu nghiệp thô tháo bên ngoài dễ trừ. Duy có ý nghiệp, vi tế bên trong, rất khó diệt. Ðến quả vị Phật mới hết tham, sân, si. Do đó người phát đại tâm phải y cứ vào sám pháp đại thừa mới mong chóng trừ diệt được ba độc.

Ngài Phổ Hiển Bồ tát là Trưởng tử của Phật trên Hội Hoa Nghiêm còn phải phát đại nguyện. Ngài nguyện sám hối mãi cho đến cùng tận đời vị lai. Nếu phiền não và nghiệp chướng của chúng sanh không cùng tận thì sự sám hối của Ngài cũng không bao giờ cùng tận.

Trong kinh Viên Giác, Phật dạy: “Các vị đại Bồ tát lúc lập đạo tràng an cư từ 7 ngày cho đến 21 ngày đầu, sám hối nghiệp chướng”.

Trong kinh Bảo Tích, Phật dạy: “Hàng ngày nên đảnh lễ danh hiệu 35 vị Phật trong kinh ấy mà sám hối nghiệp chướng”.

Trong luật thì pháp sám hối là một vấn đề tối quan trọng, không thể bỏ qua.

Trong luận thì pháp sám hối được giải thích rõ ràng và quyết định sám hối là một việc cần phải có của người chơn tu, không thể thiếu sót.

Không sám hối rất có hại: Nghiệp chướng không tiêu trừ; tội lỗi còn mãi, oan khiên nhiều kiếp theo hoài.

Ngài Ngộ Ðạt quốc sư mười đời làm cao tăng mà Triệu Thố vẫn còn theo báo mãi.

Như thế dù cầu hạnh phúc thế gian hay xuất thế gian, việc đời và việc đạo, đều bị trở ngại, tu chứng bất thành.

*

Kinh sách dùng để sám hối có rất nhiều: Như bộ Vạn Phật, bộ Tam Thiên Phật, bộ Thủy Sám, Hồng Danh sám, Chuẩn Ðề sám và Dược Sư sám v.v…

Nhưng bộ Lương Hoàng Sám này lể rõ tội nhơn khổ quả, nghe đến ai cũng phải lạnh mình khiếp sợ mà phát tâm cải ác tùng thiện ngay. Bộ này lại có công năng diệt trừ tiền khiên, oan trái nhiều kiếp, nhiều đời, đọc đến phải cảm rơi nước mắt. Mỗi chữ, mỗi câu đều nhắm mục đích đền trả bốn ơn, cứu thoát ba cõi, thay thế lục đạo mà sám hối, cầu nguyện cho tam đồ thoát khỏi trầm luân. Cuối cùng lại vì tất cả chúng sanh mà phát nguyện, hồi hướng.

Người tu hành đọc đến bộ Lương Hoàng sám, dù không muốn phát đại tâm cũng phải phát, dù không tin địa ngục cũng phải sợ Tam đồ.

Những người tu Tịnh Ðộ phát tâm Bồ đề thường nên tu theo pháp sám này, để mau về Cực Lạc.

Có thể nói bộ Lương Hoàng Sám này là “bửu bối” riêng của những người cầu vô thượng đạo, phát bồ đề tâm vậy.

Bộ này có năng lực sanh phước diệt tội không thể nghĩ bàn.

Trong chánh văn có bài kệ tán thán công đức sám hối, đại ý như thế này:

Sám vừa cử lên

Tội lỗi tiêu liền;

Giải được oan trái,

Trừ được tai ương;

Thoát khỏi khổ nạn,

Phước đức vô biên.

Sanh lên Ðạo lợi,

Hoặc về Tây phương.

*

Văn Thủy Sám cũng nói: “Lúc nghiệp báo đến, tội nhơn không thể rúc vào núi đá, lặn xuống đáy nước, bay lên không gian hay ẩn núp đâu được. Duy chỉ có nhờ phương pháp sám hối mả thoát được tai nạn mau chóng hơn hết, độc nhất vô nhị”.

Sám hối lợi cho mình, lợi cho người, cho tất cả tam đồ, lục đạo pháp giới chúng sanh.

Công đức sám hối nói không cùng nghĩ không tận. Tôi chỉ xin đốt nén hương lòng cầu xin Tam bảo gia hộ cho tất cả người thấy, người nghe, người ấn tống đồng phát Bồ đề tâm, đồng cầu sám hối, đồng hồi hướng công đức.

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát

Trong lúc phiên dịch văn này, tôi không có hy vọng gì cao xa hơn là giúp cho hàng sơ cơ một phương pháp tu hành thiết thực để về Tây phương Cực Lạc.

Do đó, đầu quyển thứ nhất có nghi thức khai kinh thông thường dễ tụng. Cuối quyển thứ mười có nghi thức Tịnh độ, cầu sanh An dưỡng làm tiêu chuẩn hồi hướng.

*

Sau hết tôi xin chân thành cảm tạ chư vị đại thiện tri thức trong Hải hội chỉ giáo cho tôi những khiếm khuyết, mong sao kỳ tái bản được hoàn toàn hơn.

Tôi nguyện xin đem công đức này hướng lên cúng dường ngôi Tam bảo, đức Quán Thế Âm Bồ tát, đức Vô Biên Thân Bồ tát, và chư vị Hộ pháp đã mật tùy gia hộ cho tôi làm một việc mà tôi tưởng tượng tôi không làm được.

Nguyện xin hồi hướng lên chư vị Ðại đức Tăng trong hiện tại đã dìu dắt tôi tu hành. Ni chúng bộ đã phát tâm xuất bản giúp tôi; cùng chư vị thiện nam tín nữ đã ủng hộ tôi nhiều phương diện trong lúc phiên dịch.

Nguyện xin tất cả đều trọn thành Phật đạo.

Dịch giả: Tỳ Kheo Thích Viên Giác

Viết xong tại Tu viên Giác Hải

Ðiện Nam Hải Quan Âm ở Vạn Giả

Bắc Nha Trang ngày mãn hạ, năm Canh tý 2504 (1960)

Kinh Lương Hoàng Sám – Nghi Thức Tụng Niệm

Kệ Khai Chuông

Nghe tiếng chuông phiền não nhẹ,

Trí huệ lớn Giác đạo sanh.

Lìa địa ngục khỏi hầm lửa,

Nguyện thành Phật độ chúng sanh.

Án dà ra đế da ta bà ha (3 lần)

Kệ Niệm Hương 

Hương giới, hương định cùng hương huệ.

Hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến;

Ðài mây sáng chói trùm cõi pháp,

Cúng dường trước mười phương ngôi Tam Bảo.

Nguyện các hương hoa này,

Trải khắp đến mười phương;

Không lường trong cảnh Tịnh,

Không lường hương trang nghiêm;

Ðầy đủ hạnh Bồ tát,

Thành tựu hương Như Lai.

Nam mô Hương cúng dường Bồ tát. (3 lần)

Kệ Phát Nguyện 

Chúng sanh không ngằn thệ nguyện độ,

Phiền não không cùng thệ nguyện đoạn;

Pháp môn không lường thệ nguyện học,

Phật đạo cao tột thệ nguyện thành.

Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ,

Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn;

Tự tánh pháp môn thệ nguyện học,

Tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành. (3 lần)

Ðệ tử tên . . . . . pháp danh . . . . . chí tâm khẩn nguyện, chuyên trì lễ bái Lương Hoàng Từ Bi Sám pháp, cầu sanh Tịnh độ, hiện tiền một lòng chẳng rối, tỏ ngộ Vô sanh, ngày khắc mạng tròn báo đủ, sanh về cõi Phật. Trên đài sen báu, hầu Phật nghe Pháp, bạn cùng Bồ tát, vui cảnh Lạc Bang, mau lên quả vị Bất thối, trở lại Ta Bà, hóa độ chúng sanh, làm nên đạo cả.

Nam mô Chứng Minh sư Bồ tát. (3 lần)

Kệ Khen Phật

Ðấng Pháp Vương vô thượng,

Ba cõi chẳng ai bằng;

Thầy dạy khắp trời người,

Cha lành chung bốn loài;

Quy y tròn một niệm,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ.

Xưng dương cùng tán thán.

Ức kiếp không cùng tận.

Quán Tưởng 

Năng lễ sở lễ tánh không tịch

Cảm ứng đạo giao năng tư nghì

Ngã thử đạo tràng như đế châu

Thập phương chư Phật ảnh hiện trung

Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền

Ðầu diện tiếp túc quy mạng lễ. (1 xá)

Đảnh Lễ

Chí tâm đảnh lễ:

Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh tăng, thường trụ Tam bảo. (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:

Nam mô Ta bà Giáo chủ Ðiều ngự Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Long Hoa Giáo chủ Di Lặc tôn Phật, Ðại trí Văn Thù Sư lợi Bồ tát. Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Linh Sơn hội Thượng Phật Bồ tát. (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:

Nam mô Lạc bang Giáo chủ Ðại từ bi phụ tiếp dẫn Ðạo sư A Di Ðà Phật, Ðại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Ðại Thế Chí Bồ tát, Thanh Tịnh Ðại hải chúng Bồ tát. (1 lạy)

Dương Chi

Cành Dương nước tịnh,

Rải khắp ba ngàn.

Tánh không tánh đức,

Lợi lạc trần gian

Cõi pháp rộng thinh,

Tiêu diệt tai nàn.

Ngạ quỷ vui an.

Nam mô Thanh Lương Ðịa Bồ tát ma ha tát. (3 lần)

Tụng Chú Đại Bi 

Nam mô đại bi hội thượng Phật, Bồ tát. (3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà ra ni.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da, Nam mô a rị da bà lô yết đế thước bác ra da, Bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê lị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng a thệ dựng, tát bà tát đa na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca la đế.

Di hê lỵ, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, lỵ đà dựng. Cu lô cu lô, yết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, Thất Phật ra da. Giá ra giá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da.

*

Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê lỵ, Ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế lỵ dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha, ma ha tất đà dạ ta bà ha, Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ ta bà ha.

Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha, Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn già ra dạ ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ ta bà ha. 

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a lỵ da, bà lô kiết đế, Thước bàn ra dạ ta bà ha.

Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà da ta bà ha. (3 lần)

*

Ðại từ đại bi mẫn chúng sanh,

Ðại hỷ đại xả tế hàm thức,

Tướng hảo quang minh dĩ tự nghiêm.

Chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ.

Nam mô thập phương thường trụ Tam bảo. (3 lần)

Nam mô Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật

Nam mô Thi Khí Phật

Nam mô Tỳ Xá Phù Phật

Nam mô Câu Lưu Tôn Phật

Nam mô Câu Na Hàm Mâu ni Phật

Nam mô Ca Diếp Phật

Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật

Nam mô Di Lặc Tôn Phật.

Bài Kệ Khai Kinh 

Pháp vi diệu thâm sâu cao tột,

Trăm ngàn muôn ức kiếp gặp đâu.

Con nay thấy nghe được thọ trì,

Nguyện hiểu Như Lai nghĩa chơn thật,

Nam mô thập phương thường trụ Tam bảo. (3 lần)

KINH LƯƠNG HOÀNG SÁM

Trước tác: Chí Công Thiền Sư

Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Viên Giác

*

Kinh Lương Hoàng Sám – Quyển Thứ Nhất 

Sám Pháp Từ Bi Đạo Tràng

Từ bi Ðạo Tràng, bốn chữ ấy là danh hiệu của pháp sám hối nầy.

Nhơn vì cảm thấy Ðức Phật Di Lặc, rủ lòng từ bi, thương đời hiện tại và đời vị lai, ứng mộng dạy bảo, đặt tên như thế, đúng như sự thật, không dám đổi thay.

Nay vâng lời dạy bảo của Ðấng Từ Bi, ấy là vì muốn hộ trì Tam bảo: Làm cho ma quân ẩn hình, khiến người tự cao tự đại và người tăng thượng mạn phải tự chiết phục; khiến người chưa trồng căn lành phải trồng căn lành; người đã trồng rồi, thì làm cho căn lành thêm lớn; khiến người hay chấp lấy chỗ sở đắc đắm trước tà kiến, phải phát tâm xả bỏ chấp trước; khiến người ưa tiểu thừa không nghi đại thừa; người ưa đại thừa sanh tâm hoan hỷ tiểu thừa.

Vả lại, pháp sám từ bi nầy lớn hơn tất cả các việc lành khác. Pháp nầy là chỗ quy y của hết thảy chúng sanh; như mặt trời sáng ban ngày; như mặt trăng chiếu ban đêm. Pháp này là tròng con mắt, là đạo sư, là cha mẹ, là anh em, là chơn thiện tri thức của người tu hành, đồng đi đến đạo tràng.

Pháp sám nầy thân thích hơn huyết nhục; đời đời theo nhau, dầu đến chết cũng không rời nhau. Vì thế nên gọi Pháp sám nầy là Từ Bi Ðạo Tràng.

Hôm nay Ðại chúng ẩn thân hay hiện hình trong Ðạo tràng, lập ra Pháp sám nầy đều phát đại tâm, vì có mười hai nhơn duyên lớn.

Những gì là mười hai?

1.- Một là nguyện hóa độ sáu đường chúng sanh không có hạn lượng.

2.- Hai là chuyện báo đáp tứ ân không có hạn lượng.

3.- Ba là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến chúng sanh thọ cấm giới của Phật, không sanh tâm hủy phạm.

4.- Bốn là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến các chúng sanh, đối với các bậc tôn trưởng không sanh tâm kiêu mạn.

5.- Năm là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến các chúng sanh, sanh ra nơi nào cũng không khởi tâm giận hờn.

6.- Sáu là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến các chúng sanh đối với sắc thân người khác, không khởi tâm ghen ghét.

7.- Bảy là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến các chúng sanh, đối với các pháp trong thân, ngoài thân, không sanh tâm keo rít, mến tiếc.

8.- Tám là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến các chúng sanh, hễ làm được phước thiện gì, đều không phải vì mình mà làm, chỉ vì những người không có ai ủng hộ, không có ai giúp đỡ mà làm.

*

9.- Chín là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến các chúng sanh không vì mình mà tu pháp tứ nhiếp mà chỉ vì hết thảy chúng sanh.

10.- Mười là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến các chúng sanh, thấy người cô độc tù tội, tật bệnh thì sanh tâm cứu giúp, cho họ an vui.

11.- Mười một là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến người tu hành, thấy có chúng sanh nào đáng chiết phục thì chiết phục, đáng nhiếp thọ thì nhiếp thọ.

12.- Mười hai là nguyện nhờ thần lực của Pháp sám nầy, khiến các chúng sanh, sanh ra nơi nào, cũng tự nghĩ nhớ đến sự phát tâm bồ đề hôm nay, làm cho tâm bồ đề tương tục mãi mãi không bị gián đoạn.

Ngưỡng mong Ðại chúng hoặc phàm hoặc thánh, hoặc ẩn thân hay hiện hình trong Ðạo Tràng nầy, đồng gia tâm phù hộ, đồng gia tâm nhiếp thọ, khiến đệ tử chúng con tên . . . . sám hối được thanh tịnh, thệ nguyện được thành tựu, tâm đồng tâm chư Phật, nguyện đồng nguyện chư Phật. Chúng sanh trong bốn loài, sáu đường do đó mà được mãn bồ đề nguyện.

Kinh Lương Hoàng Sám – Chương Một: Quy Y Tam Bảo 

Hôm nay Ðại chúng đồng nghiệp trong Ðạo tràng mọi người đều nên sanh tâm giác ngộ; biết đời là vô thường, thân không sống lâu, trẻ mạnh rồi phải già yếu; chớ ỷ hình dung tốt đẹp mà không tự giữ gìn tịnh hạnh.

Vạn vật cũng vô thường thảy đều tiêu diệt. Trên trời dưới đất, không có vật gì tồn tại mãi mãi. Lúc còn trẻ, nhan sắc tốt đẹp, da thịt mịn màng, thơm tho trong sạch. Nhưng thân nầy cũng vô thường. Người sống có hợp có tan. Sanh già bệnh chết không hẹn mà đến, ai sẽ trừ khử khổ ấy cho ta. Tai họa thình lình đưa đến biết đâu mà tránh, không thể thoát được. Sang, hèn, giàu, nghèo, thảy đều nhơn vậy mà chết. Chết rồi thân thể sình chương, thối không chịu nổi. Vậy luyến tiếc thân nầy nào có ích gì. Nếu không lo tu nghiệp lành thù thắng, thì do đâu mà thoát ly sanh tử.

Ðệ tử chúng con tên . . . tự nghĩ rằng: Hình tợ sương mai, mạng như nắng chiều: đời sống mong manh; chưa biết chết lúc nào. Lại thêm nghèo thiếu, không có phước đức đáng xưng; không có trí tuệ sáng suốt, không có hiểu biết như đại nhơn thần thánh; lời nói không tốt đẹp, không trung hòa, nhơn nghĩa, hạnh kiểm tiến thối không có lễ độ, tôn ty. Nếu lầm lập chí nhƣư vậy, càng thêm mệt nhọc cho sự tu hành.

*

Ngưỡng mong Ðại chúng sanh lòng hổ thẹn, sợ hãi. Pháp hội nầy lập có kỳ hạn, nếu không lo sám hối sau luyến tiếc, hối hận cũng không thể được.

Từ nay trở đi nguyện phải nỗ lực, sớm tối chuyên tâm, phụng sự cúng dường càng thêm tinh tấn. Chỉ có việc ấy là khoan khoái, cần làm hơn hết.

Ngưỡng mong Ðại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng, nên phải ân cần, thận trọng, phát tâm dõng mãnh, tâm không buông lung, tâm an trú, tâm quảng đại, tâm thù thắng, tâm đại từ bi, tâm lạc thiện, tâm hoan hỷ, tâm báo ơn, tâm tế độ, tâm giữ gìn hết thảy chúng sanh; tâm cứu hộ hết thảy chúng sanh, tâm đồng tâm Bồ Tát; tâm đồng tâm chư Phật! nhất tâm nhất ý, chí thành đảnh lễ Tam Bảo.

Nguyện xin thay thế quốc vương, đế chúa, thổ địa, nhơn dân, thế cho cha mẹ, sư trưởng thượng, trung, hạ tòa, thiện ác tri thức, chư thiên, chư tiên, hộ thế tứ vương, chủ thiện phạt ác, thủ hộ trì chú, ngũ phương long vương, long thần bát bộ, và hết thảy chúng sanh vô cùng vô tận, trong mười phương, có tâm linh, có thần thức, hoặc ở dưới nước, hoặc ở trên khô, hoặc ở giữa hư không; nguyện thế cho hết thảy chúng sanh ấy mà quy y mười phương tận hư không giới hết thảy chư Phật. (1 lạy)

*

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tôn pháp. (1 lạy)

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy hiền Thánh Tăng. (1 lạy)

Ngày nay Ðại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nên biết vì cớ gì mà phải quy y Tam Bảo.

Vì các Ðức Phật, các vị Bồ tát, có lòng đại từ vô lượng độ thoát thế gian, có lòng đại bi vô lượng, an ủi thế gian, thương hết thảy chúng sanh như con đỏ.

Lòng đại từ đại bi ấy thường không biết mỏi mệt, hằng cầu việc lành lợi ích cho tất cả: thề dập tắt lửa tham sân si cho tất cả, giáo hóa khiến cho tất cả đều được quả vô thượng bồ đề. Nếu chúng sanh không chứng quả bồ đề. Phật thề không thành chánh giác, vì duyên cớ ấy nên đại chúng cần phải quy y Tam Bảo.

Vả lại các đức Phật thương xót chúng sanh nhiều hơn cha mẹ thương con.

Trong kinh dạy rằng: “Cha mẹ thương con chỉ một đời. Phật thương chúng sanh tâm không cùng tận. Lại nữa cha mẹ thấy con vong ân bội nghĩa, thì sanh lòng giận hờn, tình thương giảm xuống. Phật và Bồ tát thương chúng sanh, lòng không như vậy. Thấy chúng sanh bội nghịch lòng thương của Phật và Bồ tát càng tăng lên mãi. Các Ngài còn vào trong địa ngục hỏa luân, địa ngục vô gián mà chịu vô lượng khổ, thế cho chúng sanh.”

*

Vì thế nên biết rằng chư Phật và Bồ tát thương xót chúng sanh hơn cha mẹ thương con. Vậy mà chúng sanh vì vô minh che lấp trí huệ, phiền não che lấp tâm tánh, đối với Phật và Bồ tát không biết quay đầu lại mà quy y, không biết ngưỡng mộ. Thuyết pháp giáo hóa, chúng sanh cũng không tin, không chịu mà còn thô lỗ, phỉ báng, chưa từng phát tâm niệm ơn chư Phật.

Vì chúng sanh không tin nên đọa vào đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; khắp trong ba đường ác ấy, chịu vô lượng khổ.

Tội hết được ra, tạm sanh làm người, tai mắt không đủ, thân thể xấu xa, không tu thiền định, không tu trí huệ.

Chúng sanh có những quả báo chướng ngại như vậy là do không có lòng tin.

Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng biết tội không tin nặng hơn các tội, khiến người tu hành lâu không thấy Phật.

Hôm nay đại chúng tự phải cùng nhau khẳng khái tu hành, chiết ý tỏa tình sanh tâm tăng thượng, khởi lòng hổ thẹn, cúi đầu cầu xin sám hối tội cũ. Nghiệp lụy hết rồi, trong ngoài thanh tịnh, sau mới vận tâm quay về đức tín, phát lòng tin tưởng Tam Bảo. Nếu không khởi tâm như vậy, vận tưởng như vậy, sợ lòng tin phải cách tuyệt, chướng ngại khó thông. Một khi đã mất nẻo xu hướng, thì mờ mịt không biết về đâu! Vậy thì chúng con không thể không tin mà phải đầu thành đảnh lễ quy y Tam Bảo, không dám nghi ngờ.

*

Ðệ tử chúng con tên . . . nay nhờ sức từ bi của chư Phật, chư đại Bồ tát mới mong hiểu biết, rất lấy làm hổ thẹn. Những tội đã làm nguyện xin trừ diệt. Những tội chưa làm không dám làm nữa.

Từ nay trở đi, cho đến ngày thành Phật, khởi lòng tin kiên cố, không dám thối lui.

Xả thân nầy hoặc sanh vào địa ngục, hoặc sanh vào ngạ quỷ, hoặc sanh vào súc sanh, hoặc sanh làm người, hoặc sanh làm trời, ở trong ba cõi, hoặc thọ nam thân, hoặc thọ nữ thân, hoặc thọ phi nam phi nữ thân v.v. . . hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc lên hoặc xuống chịu đủ khổ não, không thể chịu nổi, chúng con xin thề: không vì khổ ấy mà thối mất lòng tin ngày nay.

Thà chịu bao nhiêu khổ lụy trong muôn ngàn ức kiếp, chúng con xin thề: không vì khổ mà thối mất lòng tin hôm nay.

Nguyện xin chư Phật, chư đại Bồ tát, đồng gia tâm cứu hộ, đồng gia tâm nhiếp thọ, khiến đệ tử chúng con tên . . . tín tâm được kiên cố, đồng như tâm của chư Phật, đồng như nguyện của chư Phật, tà ma ngoại đạo không thể phá hoại tín tâm của chúng con.

Chúng con cùng nhau chí tâm, một lòng tha thiết, đầu thành đảnh lễ, quy y mười phương tận hư không giới hết thảy chư Phật.

*

Quy y mười phương tận hư không giới, hết thảy Tôn Pháp.

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Hiền Thánh Tăng.

Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng hãy lắng lòng mà nghe.

Than ôi! Cõi Trời, cõi người đều huyễn hoặc, thế giới là giả dối.

Do vì huyễn hoặc, không chơn thật, nên kết quả cũng không chơn thật. Giả dối mong manh nên biến hóa vô cùng.

Kết quả không chơn, sở dĩ phải chìm đắm mãi trong vòng sanh tử. Biến hóa không cùng, sở dĩ phải trôi lăn hoài trong biển ái khổ đau. Thấy chúng sanh đau khổ như vậy, Phật rất thương xót.

Kinh Bi Hoa dạy rằng: “Các vị Bồ tát thành Phật đều có bổn nguyện”.

Ðức Thích Tôn không hiện thân sống ở đời lâu dài, thọ mạng Ngài ngắn ngủi là vì thương chúng sanh ở cõi nầy, sống yểu uổng trong nháy mắt rồi chết, như biến hóa, chìm mãi trong biển khổ không ra được. Vì thế nên Phật cõi nầy cứu chúng sanh tệ ác, phải tạm dùng lời cứng rắn khổ khắc, thiết tha mà dạy bảo.

Ngài ở trong biển khổ, cứu độ chúng sanh, chưa từng khi nào không lưu tâm đến sự hoằng hóa, tế độ, lợi ích cho chúng sanh, bằng cách ứng dụng thiện pháp làm phương tiện.

*

Sở dĩ kinh Tam muội dạy rằng: “Tâm chư Phật là tâm đại từ bi; chỗ tâm từ bi của Phật soi đến là chỗ chúng sanh đau khổ”.

Phật thấy chúng sanh chịu khổ não như tên bắn vào lòng Phật, như phá tròng mắt Phật. Thấy rồi thương xót, tâm không tạm yên. Cho nên Phật muốn diệt khổ ngay cho chúng sanh được an vui.

Lại nữa, trí huệ của chư Phật là trí huệ bình đẳng, nên Phật hóa độ chúng sanh cũng bình đẳng. Như đức Thích Tôn ai cũng xưng Ngài là Ðấng Bình đẳng. Ngài dõng mãnh, chịu khổ độ thoát chúng sanh, cho nên biết ân đức Bổn sư rất nặng.

Ngài hay ở trong khổ não thuyết pháp, lợi ích cho hết thảy chúng sanh. Ngày nay chúng sanh không được giải thoát là vì trước kia không nghe được âm thanh vi diệu của Phật thuyết pháp; về sau không thấy được Phật niết bàn. Chúng sanh vì nghiệp chướng ngăn che nên xa cách lòng thương của Phật.

*

Bây giờ chúng con hãy cùng nhau sanh tâm thương tiếc. Vì thương tiếc nên thiện tâm nồng hậu, ở trong đau khổ chúng con nhớ ơn chư Phật, kêu cầu thảm thiết, ảo não khóc lóc, chí thành đảnh lễ, năm vóc sát đất, nguyện vì quốc vương và quyến thuộc của quốc vương, thổ địa nhơn dân, phụ mẫu, sư trưởng, tín thí đàn việt, thiện ác tri thức, chư thiên . . . .

chư tiên, thông minh, chánh trực, thiên địa hư không, hộ thế tứ vương, chủ thiện phạt ác, thủ hộ trì chú, ngũ phương long vương, long thần bát bộ, cùng khắp hết thảy chúng sanh vô cùng vô tận trong mười phương mà quy y mười phương tận hư không giới hết thảy chư Phật. (1 lạy)

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tôn pháp. (1 lạy)

Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Hiền Thánh Tăng. (1 lạy)

(Toàn thể đều quỳ chắp tay tâm niệm và tiếp tụng):

Chư Phật đại thánh tôn,

Thấu rõ hết thảy pháp,

Ðạo sư của Trời người

Cho nên nguyện quy y.

Tôn pháp tánh thường trú, Thanh tịnh tu đa la

Hay trừ bệnh thân tâm,

Cho nên nguyện quy y.

Ðại địa chư Bồ tát

Vô trước tứ sa môn

Hay cứu hết thảy khổ

Cho nên nguyện quy y.

Tam Bảo cứu thế gian Vì sáu đường chúng sanh, Con nay xin đảnh lễ, Quy y thế tất cả.

Từ bi che hết thảy Khiến đồng được an vui. Thương xót cả muôn loài Chúng con đồng quy y.

( Mọi người đều đảnh lễ sát đất và tự niệm rằng):

Nguyện xin hết thảy mười phương Tam Bảo đem từ bi lực, bổn thệ nguyện lực, bất tư nghị lực, vô lượng tự tại lực, độ thoát chúng sanh lực, phú hộ chúng sanh lực, an ủy chúng sanh lực. Ðem những năng lực ấy khiến các chúng sanh đều giác ngộ, chúng con tên . . . ngày nay vì các chúng sanh ấy mà quy y Tam bảo.

Chúng con xin nhờ công đức nầy có năng lực khiến các chúng sanh ấy đều được mãn nguyện.

Nếu các chúng sanh ấy hoặc ở trong loài trời, loài tiên thì được hết nghiệp hữu lậu.

Nếu các chúng sanh ấy ở trong loài a tu la thì khiến họ xả bỏ tánh kiêu mạn.

Nếu các chúng sanh ấy ở trong loài người thì khiến cho hết khổ đau.

Nếu các chúng sanh ấy ở trong các loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì khiến cho liền được giải thoát.

Lại nữa, ngày nay người nào nghe được danh hiệu của Tam bảo, và người không nghe được cũng đều nhờ được thần lực của Phật mà được giải thoát, hoàn toàn thành tựu vô thượng bồ đề, đồng với các đại Bồ Tát thành bậc chánh giác.

Kinh Lương Hoàng Sám – Chương Hai: Dứt Nghi Ngờ

Ngày nay Ðại chúng đồng nghiệp trong Ðạo tràng lắng lòng mà nghe. Luận rằng: nhơn quả ảnh hưởng, lẫn nhau cảm ứng tương sanh nhau; đạo lý tự nhiên như vậy không sai lầm. Nhưng về hạnh nghiệp của chúng sanh, mỗi người một khác không giống nhau, nên quả báo cũng không giống nhau; hoặc tinh thô, hoặc sang hèn, hoặc thiện hoặc ác sai khác muôn vàn.

Ðã có sai khác thì không rõ nguyên nhơn sự sai khác ấy do đâu. Vì không rõ nên sanh ra nghi ngờ, lầm lạc. Hoặc nói người tinh tấn tu hành, giữ giới trong sạch, đáng lẽ được sống lâu, sao lại chết sớm. Người hàng thịt (đồ tể), đáng lẽ chết sớm sao lại sống lâu. Người thanh liêm đáng lẽ được giàu sang, sao lại thấy nghèo thiếu. Người tham lam trộm cướp, đáng lẽ nghèo thiếu khốn khổ, sao lại giàu có phong lưu!

Nghi ngờ sai lầm như vậy ai cũng có nghĩ đến không tránh khỏi. Do vì không rõ việc của mình đã làm từ bao kiếp trước, hột giống của mình đã gieo không thuần, nên ngày nay đem lại kết quả bất nhất như vậy.

*

Kinh Bát nhã dạy rằng: “Nếu người nào đọc tụng kinh nầy, bị kẻ khác khinh chê, là vì người ấy đời trước có tội nghiệp nặng, đáng đọa vào đường ác. Ngày nay nhờ người khinh chê nên tội nghiệp đời trước được tiệu diệt.

Bởi chúng sanh không hết lòng thâm tín lời Phật dạy, mới có tâm nghi ngờ. Chúng sanh bị vô minh cho hoặc, cho lấp tâm tánh nên luống sanh tâm nghi ngờ điên đảo như vậy.

Chúng sanh lại cũng không tin: còn ở trong ba cõi là khổ, ra khỏi ba cõi là vui. Những người thường say đắm thế gian đều cho đời là vui.

Chúng ta thử hỏi:

Nếu đời thật là vui, cớ sao trong tâm biết vui ấy lại có tâm biết khổ.

Ăn uống quá độ liền sanh tật bệnh: ban sởi, ho hen, khí tức, cổ trướng, đau đớn, khó chịu.

Nói đến y phục, càng thấy khổ nhiều. Lạnh được áo mỏng thì bạc ơn người cho, lòng nghĩ nông nổi.

Nắng được áo kép, lông chiên, khổ não càng nhiều. Nếu y phục là vui, cớ sao lại sanh khổ não.

*

Nếu cho gia đình quyến thuộc là vui, lẽ ra cùng nhau vui mãi, hoan lạc ca cười không dứt, cớ sao thoắt vậy vô thường, qua đời trong nháy mắt! Vừa có đó liền không đó. Sớm còn tối mất, kêu trời vang đất, can trường đoạn đoạn! Chúng sanh lại cũng không tự biết mình từ đâu đến đây? Chết rồi đi đâu. Người còn khóc kẻ mất, ôm lòng thương xót, tống táng đưa nhau, thẳng đến sơn cùng, chắp tay vĩnh biệt, nhất từ vạn kiếp, đau đớn biết bao? Những điều như vậy, sầu khổ vô lượng, chúng sanh mê chấp cho đó là vui.

Trái lại, gây nhơn vui xuất thế, chúng sanh đều cho việc ấy là khổ.

Thấy người trai giới tương dưa, nuôi thân qua buổi, không mặc lục là, quen bận phấn tảo ăn mặc nâu sồng, chúng sanh đều cho các việc ấy là tự ép xác, khốn khổ, không biết làm như thế là gây nhơn giải thoát, gieo giống an vui.

Hoặc thấy người bố thí trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, kinh hành lễ bái, tụng tập chuyên cần, chúng sanh đều cho là khổ; không biết làm như vậy là tu tâm xuất thế, để được an vui.

Thoảng hoặc thấy có người tật bệnh mà chết, liền sanh tâm nghi rằng: người ấy bắt buộc thân tâm nầy làm việc quá độ, trọn ngày không được tạm nghỉ. Sức lực con người không thể nào kham nổi. Nếu người tu hành không siêng năng khó nhọc thì đâu đến nỗi luống mất thân mạng với việc làm vô ích như vậy.

*

Hoặc có người chấp chặt lý thuyết của mình, tự cho mình là đúng, chứ không biết suy quả tầm nhơn, luống sanh tâm mê chấp, luống làm việc sai lầm.

Nếu may gặp được Thiện tri thức thì có thể hết mê lầm. Nếu không may. gặp phải bạn ác thầy tà thì si mê càng lắm.

Nhơn vì nghi ngờ mê hoặc nên đọa vào ba đường ác, ở trong ấy, ăn năn không kịp.

Hôm nay Ðại chúng đồng nghiệp trong Ðạo tràng nên hiểu rõ.

Phàm nghi ngờ như vậy có vô lượng nhơn duyên.

Vả chăng hột giống nghi ngờ lầm lạc ấy, tu hành thoát ra khỏi ba cõi luân hồi còn chưa hết, huống gì thân phàm phu nầy làm sao trừ ngay cho được. Ðời nầy không lo đoạn trừ, đời sau càng thêm.

Ðại chúng cùng nhau vừa mới tu tập, đường hãy còn dài, tự tu khổ hạnh, nên căn cứ vào lời Phật dạy, đúng pháp mà tu, không nên nghi ngờ, từ chối sự mệt nhọc.

*

Chư Phật thánh nhơn, sở dĩ ra được khỏi sanh tử, đến bờ giải thoát bên kia, là nhờ công tích thiện, nên được quả giải thoát vô ngại tự tại.

Chúng con ngày nay chưa lìa khỏi sanh tử, nghĩ cũng tự đáng thương; làm sao còn ham muốn ở trong đời ác trược nầy nữa. Nay đây may được, tứ đại chưa suy đồi; ngũ phước còn thạnh, tới lui thong thả, động chuyển tự do mà không nỗ lực tu hành, còn đợi gì nữa. Ðời trước đã không thấy đạo; đời nầy cũng luống qua, không chứng ngộ gì, thì đời sau làm sao tế độ chúng sanh.

Xem lại tự tâm, thật cũng đau lòng. Ngày nay đại chúng chỉ nên khuyên nhau nỗ lực siêng tu, không nên nói rằng, phải có tin tức chứng ngộ gì mới chịu tu tập; vì Phật đạo lâu dài, không thể một mai mà làm xong được. Nếu cứ chờ tin tức, như vậy một mai rồi lại một mai thì biết bao giờ chứng quả.

Nay hoặc có người nhơn tụng kinh, ngồi thiền, siêng tu khổ hạnh, hơi có chút tật bệnh liền nói: Vì tụng tập siêng năng, khổ hạnh quá nhiều nên sanh bệnh hoạn. Người nói như thế là vì họ không tự biết. Nếu họ không làm như vậy thì cũng đã chết sớm mất rồi. Nhờ tu hành có phước đức mới mong sống đến hôm nay.

Vả lại, bốn đại tăng giảm tật bệnh là thường, cho đến già chết còn không thể tránh. Sanh ở thế gian nầy chung cuộc rồi ai cũng tận số. Nếu muốn được đạo, phải y lời Phật dạy mà tu. Trái lời Phật mà đắc đạo thì không có lẽ ấy.

*

Chúng sanh vì trái lời Phật nên xoay chuyển trong ba đường, chịu đủ thống khổ. Nếu đúng như lời Phật dạy mà tu hành không thôi nghỉ, siêng năng tinh tấn, như cứu lửa cháy đầu, thì đâu đến nỗi một đời luống qua, không có lợi ích gì. Mọi người cùng nhau nhất tâm tha thiết, đầu thành đảnh lễ như Thái sơn đổ, nguyện vì những người sau đây mà đảnh lễ thế cho họ.

Kể từ khi có tâm thức cho đến ngày nay, cha mẹ nhiều đời, bà con nhiều kiếp, Hòa thượng, A xà lê, đồng đàn tôn chứng, thượng trung hạ tòa, tín thí đàn việt, thiện ác tri thức, chư thiên, chư tiên, hộ thế tứ thiên vương chủ thiện, phạt ác, thủ hộ trì chú, ngũ phương long vương, long thần bát bộ khắp đến 10 phương vô cùng vô tận, hết thảy chúng sanh mà quy y Thế gian đại từ bi phụ:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Duy Vệ Phật

Nam mô Thi Khí Phật

Nam mô Tùy Diếp Phật

Nam mô Câu lưu Tôn Phật

Nam mô Câu na hàm mâu ni Phật

Nam mô Ca Diếp Phật

Nam mô Thích Ca mâu ni Phật

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát

*

Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo nguyện xin Tam bảo dùng sức Từ bi, đồng gia tâm nhiếp thọ; dùng sức thần thông che chở cứu vớt chúng con; khiến chúng con từ nay trở đi cho đến ngày thành đạo, tứ vô lượng tâm, lục ba la mật, thường được hiện tiền, tứ vô ngại trí, lục thần thông lực, được như ý tự tại; tu đạo Bồ tát, vào trí huệ Phật, hóa độ mười phương, thành bậc chánh giác.

Ngày nay Ðại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng lại khéo nhiếp tâm, suy nghĩ cho kỹ:

Ðã được cùng nhau sanh lòng tin rồi thì nên giữ ý thanh tịnh, lấy điều ấy làm nẻo xu hướng đối với các pháp trong thân ngoài thân chớ cho trở ngại.

Nếu không biết rõ việc làm hay tự mình không thể làm thì lúc thấy người làm việc phước thiện, chỉ nên khuyến khích, chắp tay tán thán công đức của người, không nên sanh tâm trở ngại, khiến người tu hành phải thối chí.

Nếu người không thối chí họ cứ tinh tấn như thường việc người không giảm, chỉ mình bị tổn phước, luống gây thị phi, đối với bản thân nào có ích gì? Nếu đối với việc lành mình không trở ngại thì có thể gọi là hợp đạo, hữu lực đại nhơn. Nếu đời nầy mình hay trở ngại việc phước thiện của người thì đời sau làm sao thông đạt được Phật đạo.

Cứ lý mà suy, tổn hại ấy rất nặng. Trở ngại thiện căn của người, tội ấy rất lớn.

*

Như kinh hộ khẩu dạy rằng:

“Có một ngạ quỷ thân hình xấu ác, thấy phải rùng mình, không ai không sợ. Thân xuất lửa dữ như đám cháy lớn. Trong miệng có sâu dòi rúc ra mãi mãi, máu mủ tanh hôi, đầy cả thân hình, mùi thối bay ra, không ai có thể đến gần. Miệng khạc ra lửa, thân phần lửa đốt, cất tiếng kêu khóc, tuông chạy cùng khắp.

Bấy giờ có ngài Mãn Túc La hán hỏi Ngã quỷ rằng:

“Xưa kia ngươi mắc phải tội gì mà nay chịu khổ như thế?”

Ngã quỷ đáp rằng:

Tôi ngày xưa đã từng làm sa môn, tham đắm sự nuôi sống, xan tham không bỏ, không giữ oai nghi, nói lời thô ác.

Nếu thấy người giữ giới tinh tấn lại liền mắng nhiếc, liếc mắt háy nguýt, ỷ mình giàu mạnh, tưởng sống lâu không chết, tạo ra vô lượng tội ác căn bản. Ngày nay nhớ lại, hối hận cũng không ích gì. Thà cầm dao bén tự cắt lưỡi mình, kiếp nầy sang kiếp khác, cam tâm chịu khổ, không nên nói một lời phỉ báng việc làm của người.

“Nguyện xin ngài trở về đường thế, đem hình trạng xấu ác của tôi răn dạy các thầy Tỳ kheo và các Phật tử, khéo giữ gìn lỗ miệng, chớ buông lời nói ác. Dầu thấy người giữ giới hay không giữ giới cũng nên tuyên dương công đức của người.

Tôi làm quỷ đói đã vài ngàn kiếp, trọn ngày thâu đêm chịu đủ điều đau khổ.

Quả báo này hết rồi lại vào địa ngục”.

*

Bấy giờ Ngạ quỷ nói lời ấy rồi, cất tiếng kêu khóc, tự gieo mình xuống đất như núi Thái Sơn sụp đổ.

Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong Ðạo tràng nghe lời kinh dạy như vậy rất đáng sợ hãi.

Chỉ vì lỗi của miệng mà mang tội nhiều kiếp, luống nữa là còn bao nhiêu điều ác khác. Xả thân này thọ thân khác mà chịu khổ điều do nghiệp ác của mình đã làm. Nếu không gây nhơn thì tại làm sao lại có chịu quả. Ðã gây nhơn quyết định phải chịu trả quả. Tội phước không xa, mình làm mình chịu, như bóng theo hình, không thể rời nhau. Do vô minh mà sanh thì cũng do vô minh mà diệt. Ðời này đời sau, bao giờ cũng vậy, chưa từng thấy người tu hành buông lung, lười biếng mà được giải thoát. Trái lại, người hay tinh tấn giữ gìn tu hành, được phước đức vô lượng.

Ngày nay Ðại chúng đều nên biết hổ thẹn rửa sạch thân tâm, sám hối tội cũ. Tội cũ hết rồi, không gây thêm tội mới nữa thì được các đức Phật khen ngợi. Cùng nhau từ nay trở đi, nếu thấy người làm thiện, chớ nói thành hay không thành, lâu hay không lâu. Dầu cho họ chỉ làm lành trong một niệm, một thời, một khắc, một ngày, một tháng, nửa năm, hay một năm cũng đã hơn người không làm.

*

Sở dĩ kinh Pháp Hoa dạy rằng:”Hoặc có người tâm tán loạn vào trong tháp miếu, xưng một câu Nam mô Phật, người ấy cũng đã thành Phật đạo”. Huống nữa có người phát tâm rộng lớn, siêng làm phước thiện. Nếu chúng ta không tùy hỷ thì thánh nhơn rất thương xót.

Chúng con tên . . . tự nghĩ mình từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay lẽ ra cũng đã có vô lượng ác tâm trở ngại việc lành tốt đẹp của người. Vì sao mà biết? Nếu không như vậy, cớ sao ngày nay việc lành của chúng con phần nhiều hay bị trở ngại. Thiền định không hay tập, trí thức không hay tu. Vừa mới lễ bái liền nói khổ lắm. Vừa cầm đến kinh liền sanh nhàm chán.

Trọn ngày chỉ ưa khó nhọc làm các nghiệp ác khiến cho thân này không được giải thoát, như tầm kéo kén, tự ràng, tự buộc, như phù du vào lửa, tự thiêu tự đốt. Những chướng ngại ấy vô lượng vô biên, chướng Bồ đề tâm, chướng Bồ đề nguyện, chướng Bồ đề hạnh, chướng ngại như vậy đều do ác tâm, Phỉ báng việc thiện của người. Nay mới giác ngộ, rất là hổ thẹn, cúi đầu xin sám hối tội ấy.

Nguyện xin chư Phật chư Ðại Bồ tát, đem lòng từ bi, đồng gia thần lực khiến đệ tử tên . .. những điều sám hối đều được trừ diệt, những điều hối đều được thanh tịnh. Vô lượng chướng ngại , Vô lượng tội nghiệp đều nhờ sám hối này mà được sạch hết.

*

Mọi người cùng nhau nhất tâm thống thiết năm vóc sát đất, quy y thế gian Ðại Từ bi phụ:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam mô Thiện Ðức Phật

Nam mô Vô Ưu Ðức Phật

Nam mô Chiên Ðàn Ðức Phật

Nam mô Bảo Thí Phật

Nam mô Vô Lượng Minh Phật

Nam mô Hoa Ðức Phật

Nam mô Tưởng Ðức Phật.

Nam mô Tam Thừa Hạnh Phật

Nam mô Quảng Chúng Ðức Phật

Nam mô Minh Ðức Phật

Nam mô Sư Tử Du Hý Bồ tát

Nam mô Sư Tử Phấn Tấn Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát

Lại xin quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam Bảo.

( Cùng nhau quỳ gối chắp tay, tâm niệm và tụng niệm):

Ðệ tử chúng con tên . . . từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, chưa thể đắc đạo, thọ lấy báo thân nầy vì tham bốn món cúng dường chưa từng xả bỏ. Tham sân tật đố, ba độc lừng lẫy sanh ra các ác nghiệp. Thấy người bố thí, trì giới, tự mình không thể làm, không hay tùy hỷ. Thấy người nhẫn nhục tinh tấn, tự mình không thể làm. Không hay tùy hỷ. Thấy người tọa thiền, tu nghiệp trí huệ, tự mình không thể làm, không hay tùy hỷ. Những tội như vậy, vô lượng vô biên ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

Lại nữa từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, thấy người làm lành, tu các công đức không hay tùy hỷ, đi đứng nằm ngồi, trong bốn oai nghi ấy không biết hổ thẹn, không nghĩ vô thường, không biết xả thân này phải vào địa ngục.

Ðối với sắc thân người khác, khởi ra điều ác. Chướng ngại người xây dựng và cúng dường Tam bảo, chướng ngại người tu tập hết thảy công đức.

Tội chướng như vậy vô lượng vô biên ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

*

Lại nữa, từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay không tin Tam bảo là chỗ quy y, chướng ngại người xuất gia, chướng ngại người trì giới, chướng ngại người bố thí, chướng ngại người nhẫn nhục, chướng ngại người tinh tấn, chướng ngại người tọa thiền, chướng ngại người tụng kinh, chướng ngại người làm chay, chướng ngại người tạo tượng, chướng ngại người cúng dường, chướng ngại người khổ hạnh, chướng ngại người hành đạo, cho đến mảy may việc thiện của người chúng con cũng chướng ngại.

Không tin xuất gia là pháp viễn ly, không tin nhẫn nhục là hạnh An lạc, không biết bình đẳng là đạo Bồ đề, không biết xa lìa vọng tưởng là tâm xuất thế. Vì những tội ấy cho nên ngày nay sanh ra nơi nào cũng gặp nhiều chướng ngại. Tội chướng như vậy, vô lượng vô biên, chỉ có chư Phật, chư Ðại Bồ tát mới thấy hết biết hết.

*

Như chỗ chư Phật và Bồ tát đã thấy đã biết, tội lượng nhiều ít, ngày nay hổ thẹn, tỏ bày sám hối, tất cả tội nhơn, khổ quả, nguyện xin trừ diệt. Từ nay trở đi cho đến ngày thành đạo tu đạo Bồ tát, không biết nhàm chán. Tài thí, pháp thí không cùng, không tận, trí huệ phương tiện làm gì cũng được. Hết thảy người thấy, người nghe đều được giải thoát.

Chúng con cùng nhau chí tâm, đầu thành đảnh lễ, năm vóc sát đất nguyện xin mười phương hết thảy chư Phật, chư Ðại Bồ tát hết thảy Hiền Thánh, rủ lòng từ bi, đồng gia thần lực, làm cho hết thảy chúng sanh trong sáu đường, nhờ sức sám hối nầy mà đoạn trừ được hết thảy tội khổ, xa lìa được hết thảy duyên điên đảo, không sanh ác tâm, xả nghiệp bốn thú phát sanh trí huệ, tu đạo Bồ đề không thôi không nghỉ; hạnh nguyện chóng viên mãn, mau lên ngôi Thập địa, vào tâm kim cang thành đẳng chánh giác.

Kinh Lương Hoàng Sám – Chương Ba: Sám Hối

Ngày nay Ðại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng lắng tai nghe kỹ lời kinh dạy sau đây:

“Còn phàm phu thì gọi là buộc. Ðã chứng quả Thánh thì gọi là giải”.

Buộc tức là kết quả ác của hành động bạo ác của ba nghiệp ác đã gây ra.

Giải tức là quả báo lành vô ngại giải thoát của ba nghiệp lành đã gây ra.

Hết thảy Thánh nhơn đều để lòng nơi đạo giải thoát, và nhờ thần thông trí huệ, vô lượng pháp môn, nên Thánh nhơn thấy hết thảy nghiệp báo thiện hay ác của tất cả chúng sanh.

Các Ngài hay dùng một thân hiện ra vô lượng thân, hay dùng một hình hiện ra vô lượng hình; có thể rút ngắn một kiếp làm một ngày; có thể kéo dài một ngày làm một kiếp. Muốn đình thọ mạng thì vĩnh viễn không diệt độ; muốn thị hiện vô thường thì nhập niết bàn; thần thông trí huệ, vào ra tự tại, bay đi tùy ý, ngồi nằm trên không. Ði đứng dưới nước như ở trên không, không thấy nguy hiểm. Lấy cảnh vắng lặng, viên tịch niết bàn làm chỗ nghỉ ngơi thông đạt vạn pháp, có không điều rõ biết, biện tài thành tựu, trí huệ vô ngại.

*

Những pháp lành ấy không phải từ trong nghiệp ác mà ra, không phải từ trong tham sân tật đố mà ra; không phải từ trong ngu si tà kiến mà ra; không phải từ trong lười biếng mà ra, không phải từ trong kiêu mạn, tự cao tự đại mà ra. Các pháp lành ấy chỉ trừ trong sự thận trọng không làm ác mà ra; các pháp lành ấy đều do các nghiệp lành mà ra.

Không nơi nào có người tu các nghiệp lành, vâng lời Phật dạy mà mắc phải ác báo, bần cùng xấu xa tàn tật, bệnh hoạn, không được tự do, thấp hèn bị kẻ khác khinh chê, lời nói không ai tin dùng bao giờ.

Nay đem thân tôi để làm chứng (lời tác giả). Nếu có người nào vâng lời Phật dạy, tu các công đức, không ích kỷ hại nhơn mà bị quả báo xấu ác thì thà để tôi bị đọa vào a tỳ địa ngục chịu thống khổ, chớ để cho người làm lành kia chịu quả báo xấu ác thì phi lý.

Ngày nay Ðại chúng đồng nghiệp trong Ðạo tràng muốn bỏ phàm làm Thánh thì nên y lời Phật dạy, như lý mà tu hành. Không nên từ chối một việc khổ nhỏ mà sanh tâm lười biếng nên tự nỗ lực cố gắng sám hối cho tiêu tội lỗi.

Trong kinh Phật dạy: “Tội do nhơn duyên mà sanh thì cũng do nhơn duyên mà diệt”.

Ðang còn thân phàm thì gặp cảnh sanh mê tâm. Vậy ngoài phương pháp sám hối ra, không có phương pháp nào hơn nữa để mong giải thoát.

Ngày nay Ðại chúng phải cùng nhau phát khởi tâm dõng mãnh, phát khởi ý sám hối.

*

Sức mạnh của pháp sám hối không thể nghĩ bàn. Vì sao mà biết? – Vì vua A xa Thế phạm đại tội ngũ nghịch, nhưng sau vua biết sanh tâm hổ thẹn, tự trách, tự ăn năn, nên tội nặng thành nhẹ.

Vả lại pháp sám hối nầy khiến người tu hành được an vui. Nếu có người nào tự mình hay định thời khóa, nỗ lực hết lòng, khấu đầu lễ bái, sám hối, quy y cho đến khi hoàn toàn trong sạch mà không cảm được mười phương Phật thì không có lý.

Ác nghiệp và quả báo theo nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, không sai mảy may, cho nên phải hết lòng sợ hãi, cố gắng chịu khổ mà sám hối.

Mọi người đều nên một lòng tha thiết gieo mình xuống đất như núi Thái sơn sụp đổ, tâm niệm miệng nói lời nầy: để cầu thỉnh mười phương chư Phật gia tâm thương xót.

Nguyện xin chư Phật cứu chúng con ra khỏi khổ ách; dủ lòng đại bi che khắp tất cả. Phóng hào quang thanh tịnh, soi khắp mười phương; diệt sạch mê mờ và trừ si ám. Nghĩ đến chúng con và các chúng sanh đang bị đọa đầy, trong địa ngục đau khổ. Xin Phật đến đây, cứu vớt chúng con. Ban bố hạnh phúc cho chúng con được thoát khổ.

*

Chúng con nhất tâm đầu thành đảnh lễ, Ðấng Ðại từ bi nghe tên liền cứu khổ. Nay chúng con nhất tâm quy y Ðấng Thế gian Ðại Từ Bi Phụ.

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích ca Mâu Ni Phật

Nam mô Kim cang bất hoại Phật

Nam mô Bảo Quang Phật

Nam mô Long Tôn vương Phật

Nam mô Tinh Tấn Quân Phật

Nam mô Tinh Tấn hỷ Phật

Nam mô Bảo Hỏa Phật

Nam mô Bảo Nguyệt Quang Phật

Nam mô Hiện vô Ngu Phật

Nam mô Bảo Nguyệt Phật.

Nam mô Vô Cấu Phật

Nam mô Ly Cấu Phật

Nam mô Sư Tử Phan Bồ tát

Nam mô Sư Tử Tác Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát

Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo, nguyện xin Tam bảo quyết định đến đây cứu vớt chúng con, đang bị đọa đày bởi tham sân si, làm đau khổ, nguyện cho chúng con được an vui và được đại Niết bàn; nguyện xin lấy nước đại bi tẩy trừ tội lỗi cho chúng con được thanh tịnh mau chứng quả bồ đề. Bốn loài chúng sanh trong sáu đường, nếu có một chúng sanh nào mắc phải tội lỗi, đều được nhờ Tam bảo mà thanh tịnh; đều được thành tựu quả vô thượng bồ đề, thành bậc chánh giác, hoàn toàn giải thoát.

*

Ðại chúng cùng nhau một lòng tha thiết, đầu thành đảnh lễ, tâm niệm miệng nói lời nầy:

Ðệ tử chúng con tên . . . từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, bị vô minh che lấp tâm tánh, bị ái nhiễm ràng buộc, nên tinh thần sa vào lưới ngu si, loanh quanh ba cõi, cùng khắp sáu đường, chìm đắm bể khổ, không có ngày ra; không thể biết được nghiệp đời trước của mình, không thể hiểu được nhơn duyên đã qua. Hoặc mình tự phá tính mạng và phá tính mạng của người. Mình tự phá phạm hạnh và phá phạm hạnh của người. Mình tự phá tịnh giới và phá tịnh giới của người.

Tội ác như vậy vô lượng vô biên, ngày nay hổ thẹn sám hối nguyện xin trừ diệt.

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ sát đất, cầu xin sám hối, những tội lỗi từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, do thân khẩu ý tạo ra mười ác nghiệp.

Thân sát đạo, dâm, miệng nói láo, nói lời thêu dệt, nói lời hai lưỡi, nói lời độc ác, ý tham sân si. Mình tự làm mười điều ác dạy người làm mười điều ác, khen ngợi người làm mười điều ác. Như vậy trong một khoảnh khắc trong một niệm tâm, khởi ra bốn mươi điều ác.

Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

*

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí tâm đảnh lễ sát đất, cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay.

Nương nơi sáu căn rồi phát ra sáu thức, chấp lấy sáu trần. Mắt đắm sắc, tai ưa tiếng, mũi trước hương, lưỡi ưa vị, thân ưa trơn láng, mịn màng, ý ưa pháp trần. Sáu căn ấy sanh ra bao nhiêu tội nghiệp, mở cửa cho tám vạn bốn ngàn trần lao. Tội ác như vậy vô lượng vô biên ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ, cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, do thân, khẩu, ý gây ra nhiều nỗi bất bình, như chỉ biết có thân mình, không biết có thân người, chỉ biết có mình khổ, không biết có người khổ, chỉ biết có mình cầu an vui, không biết có người cầu an vui, chỉ biết có mình cầu giải thoát, không biết có người cầu giải thoát.

Chỉ biết có gia đình mình, có quyến thuộc mình, không biết có gia đình người, có quyến thuộc người, chỉ biết thân mình hơi ngứa một chút, hơi đau một chút đã chịu không nổi, thế mà khi làm cho thân người khác đau thì sợ họ không đau, ít đau, không thấm thía, chỉ biết sợ khổ một chút nơi đời hiện tại mà không biết sợ khổ vô lượng kiếp nơi đời vị lai.

Bởi vì làm ác chết rồi phải đọa vào địa ngục, chịu đủ thống khổ, cho đến không biết sợ khổ vô lượng trong đường ngạ quỷ, trong đường súc sanh, trong đường a tu la.

*

Cõi người và cõi trời cũng có vô lượng thống khổ mà không tự biết, chỉ vì tâm không bình đẳng, có phân bỉ ngã, có niệm oán thân, làm cho oán thù tràn khắp lục đạo.

Những tội như vậy vô lượng vô biên, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay do tâm điên đảo, nên thường xa lìa bạn lành (thiện tri thức) gần gũi bạn ác, trái nghịch bát chánh đạo, tu theo bát tà đạo, phi pháp nói chánh pháp, chánh pháp nói phi pháp, bất thiện nói là thiện, thiện nói là bất thiện, dựng cờ kiêu mạn, giăng buồm ngu si, theo dòng vô minh vào biển sanh tử.

Những tội như vậy vô lượng vô biên ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay vì tham sân si khởi ra bốn điên đảo, tạo nên năm tội nghịch làm đủ mười ác, ba độc lừng lẫy, tám khổ càng nhiều, gieo giống địa ngục bát hàn, bát nhiệt; gieo giống 84.000 ngăn cách địa ngục, gieo giống súc sanh, gieo giống ngạ quỷ, gieo giống sanh già bệnh chết, ư bi khổ não ở cõi trời cõi người để chịu quả báo đau khổ, không thể kể xiết, không thể chịu được, không thể thấy được, không thể nghe được.

Những tội ác như vậy, vô lượng vô biên, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

*

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp trở lại cho đến ngày nay, vì ba độc tham sân si ở trong ba cõi, trải khắp hai mươi lăm loài, khởi ra các tội ác, cùng khắp mọi nơi, thuận chiều gió nghiệp mà . . . không tự biết. Hoặc chướng ngại người trì giới, tu định, tu huệ, tu các công đức, tu các thần thông. Những tội chướng như vậy vô lượng vô biên, chướng bồ đề tâm, chướng bồ đề nguyện, chướng bồ đề hạnh, ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp trở lại cho đến ngày nay, vì tâm tham sân si, phát khởi ra sáu thức, duyên theo sáu trần, gây tội cho chúng sanh. Hoặc đối với chúng sanh mà khởi tội; hoặc đối với phi chúng sanh mà khởi tội, hoặc đối với người vô lậu mà khởi tội, hoặc đối với pháp vô lậu mà khởi tội.

Những tội ác như vậy vô lượng vô biên, ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Lại nữa, chúng con vì tâm ngu si mà khởi hạnh điên đảo, tin theo thầy tà, thọ lời tà giáo, chấp đoạn chấp thường trước ngã, trước kiến làm theo si mê, khởi ra vô lượng tội lỗi.

Những nhơn duyên ấy chướng bồ đề tâm, chướng bồ đề nguyện, chướng bồ đề hạnh, ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

*

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp trở lại cho đến ngày nay, thân ba nghiệp ác, miệng bốn nghiệp ác, ý ba nghiệp ác, vô thỉ vô minh trú địa phiền não, hằng sa thượng phiền não ,

chỉ thượng phiền não, quán thượng phiền não, tứ trú địa phiền não, tam độc, tứ thủ, ngũ cái, lục thọ, thất lậu, bát cấu, cửu kiết, thập sử.

Những phiền não ấy vô lượng vô biên, hay chướng bồ đề tâm, hay chướng bồ đề nguyện, hay chướng bồ đề hạnh, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt. Ðệ từ chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp trở lại cho đến ngày nay, không hay tu tâm từ bi, không hay tu tâm hỷ xả, không hay tu tâm bố thí, không hay tu tâm trì giới, không hay tu tâm nhẫn nhục, không hay tu tâm tinh tấn, không hay tu tâm thiền định, không hay tu tâm trí huệ, không hay tu hết thảy pháp, trợ bồ đề.

Vì thế nên không có phương tiện, không có trí huệ, làm chướng ngại bồ đề tâm, chướng ngại bồ đề nguyện, chướng ngại bồ đề hạnh, ngày nay sám hối, nguyện xin trừ diệt.

*

Ðệt tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay, vì tội nghiệp nên cứ xoay vừng trong ba cõi, trải khắp sáu đường, thọ thân bốn loài, hoặc nam hoặc nữ, hoặc phi nam phi nữ, cùng khắp mọi nơi tạo vô lượng tội. Hoặc làm chúng sanh thân hình to lớn ăn nuốt lẫn nhau; hoặc làm chúng sanh thân hình bé nhỏ ăn nuốt lẫn nhau. Những tội sát hại như vậy vô lượng vô biên hay chướng bồ đề tâm, hay chướng bồ đề nguyện, hay chướng bồ đề hạnh. Ngày nay sám hối nguyện xin trừ diệt.

Ðệ tử chúng con tên . . . lại chí thành đảnh lễ cầu xin sám hối những tội từ khi có tâm thức trở lại cho đến ngày nay, ở trong sáu đường, thọ thân bốn loài. Ở trong bốn loài ấy tạo ra vô lượng vô biên tội ác.

Những tội ác như vậy, chỉ có hết thảy chi Phật chư đại Bồ tát trong mười phương mới thấy hết biết hết. Tội lượng nhiều ít hoặc khinh hoặc trọng như chư Phật và Bồ tát đã thấy đã biết. Ngày nay chí thành, cúi đầu đảnh lễ, hổ thẹn cầu xin sám hối.

Những tội đã làm, nguyện tiêu diệt hết, những tội chưa làm, không dám phạm.

*

Ngày nay chúng con nguyện xin hết thảy chư Phật trong mười phương rủ lòng đại từ cho đệ tử chúng con tên . . . thành tâm sám hối, nguyện xin đem nước đại bi rửa sạch tội lỗi sai lầm cho chúng con được hoàn toan thanh tịnh, thẳng đến đạo tràng không bị chướng ngại nữa.

Lại nguyện xin hết thảy mười phương chư Phật dùng bất tư nghị lực, bổn thệ nguyện lực, độ thoát chúng sanh lực, phù hộ chúng sanh lực, khiến đệ tử tên . . . ngày nay khởi thệ nguyện, phát tâm bồ đề.

Từ nay trở đi cho đến ngày thành Phật kiến lập đạo tâm được kiên cố, hoàn toàn không trở lại sa đọa nữa.

Những lời thệ nguyện của chúng con cũng đồng như lời thệ nguyện của chư Phật, chư đại Bồ tát đã thật hành thệ nguyện. Nguyện xin hết thảy mười phương chu Phật, chư đại Bồ tát đồng rủ lòng từ bi, đồng gia tâm nhiếp thọ cho chúng con tên . . . được như sở nguyện, mãn bồ đề nguyện. Hết thảy chúng sanh cũng đều được như sở nguyện, mãn bồ đề nguyện.

*

Kinh Lương Hoàng Sám – Hết Quyển Một

3/5 – (2 bình chọn)

[Update] Lương Hoàng Sám | hoàng sam – Diaochoangduong

TỪ BI ĐẠO TRÀNG SÁM PHÁP
LƯƠNG HOÀNG SÁM
Thượng tọa THÍCH TRÍ TỊNH giảo chính
Dịch giả: THÍCH VIÊN GIÁC

Mục Lục

LỜI GIỚI THIỆU

THAY LỜI TỰA

NGHI THỨC TỤNG NIỆM

QUYỂN THỨ NHỨT SÁM PHÁP TỪ BI ĐẠO TRÀNG

  • ·

    Chương 01

    QUY Y TAM BẢO

  • ·

    Chương 02 DỨT

    NGHI NGỜ

  • ·

    Chương 03

    SÁM HỐI

QUYỂN THỨ HAI

  • ·

    Chương 04

    PHÁT BỒ ĐỀ TÂM

  • ·

    Chương 05

    PHÁT NGUYỆN

  • ·

    Chương 06

    PHÁT TÂM

    HỒI HƯỚNG

QUYỂN THỨ BA

  • ·

    Chương 07 NÓI RÕ

    QUẢ BÁO

QUYỂN THỨ TƯ

  • ·

    Chương 07 NÓI RÕ

    QUẢ BÁO

  • ·

    Chương 08 RA KHỎI

    ĐỊA NGỤC

QUYỂN THỨ NĂM

  • ·

    Chương 09

    GIẢI OAN

    THÍCH KIẾT

QUYỂN THỨ SÁU

  • ·

    Chương 09b

    GIẢI OAN

    THÍCH KIẾT

QUYỂN THỨ BẢY

LỜI THUẬT KHUYẾN CỦA SÁM CHỦ

  • ·

    Chương 10 TỰ

    VUI MỪNG

  • ·

    Chương 11 TƯỞNG NHỚ ƠN

    TAM BẢO

  • ·

    Chương 12 CHỦ SÁM LỄ TẠ

    ĐẠI CHÚNG

  • ·

    Chương 13 TỔNG PHÁT

    ĐẠI NGUYỆN

  • ·

    Chương 14

    LỄ PHẬT

    THẾ CÁC

    CÕI TRỜI

  • ·

    Chương 15

    LỄ PHẬT

    THẾ CÁC VỊ TIÊN

  • ·

    Chương 16

    LỄ PHẬT

    THẾ CÁC VỊ TRỜI

    PHẠM VƯƠNG

    ,

    ĐẾ THÍCH

    V.V…

QUYỂN THỨ TÁM

  • ·

    Chương 17

    LỄ PHẬT

    THẾ

    A TU LA

    VÀ HẾT THẢY

    THIỆN THẦN

  • ·

    Chương 18

    LỄ PHẬT

    THẾ CÁC

    LONG VƯƠNG

  • ·

    Chương 19

    LỄ PHẬT

    THẾ

    MA VƯƠNG

  • ·

    Chương 20

    LỄ PHẬT

    THẾ CHO

    NHƠN ĐẠO,

    QUỐC VƯƠNG

    V.V…

  • ·

    Chương 21

    LỄ PHẬT

    THẾ

    QUYẾN THUỘC

    CỦA QUỐC CHỦ

  • ·

    Chương 22

    LỄ PHẬT

    THẾ

    CHA MẸ

  • ·

    Chương 23

    LỄ PHẬT

    THẾ

    CHA MẸ

    CÁC ĐỜI TRƯỚC

  • ·

    Chương 24

    LỄ PHẬT

    THẾ

    SƯ TRƯỞNG

  • ·

    Chương 25

    LỄ PHẬT

    THẾ

    MƯỜI PHƯƠNG

    TỲ KHEO

    TỲ KHEO NI

  • ·

    Chương 26

    LỄ PHẬT

    THẾ

    TỨ CHÚNG

    QUÁ KHỨ

QUYỂN THỨ CHÍN

  • ·

    Chương 27

    LỄ PHẬT

    THẾ CÁC

    CHÚNG SANH

    TRONG

    ĐỊA NGỤC

    A TỲ

  • ·

    Chương 28

    LỄ PHẬT

    THẾ CÁC

    CHÚNG SANH

    TRONG

    ĐỊA NGỤC

    KHÔI HÀ

    ,

    ĐỊA NGỤC

    THIẾT HOÀN V.V…

  • ·

    Chương 29

    LỄ PHẬT

    THẾ

    CHÚNG SANH

    TRONG NHỮNG

    ĐỊA NGỤC

    UỐNG NƯỚC ĐỒNG SÔI,

    ĐỊA NGỤC

    HẦM HỐ V.V…

  • ·

    Chương 30

    LỄ PHẬT

    THẾ

    CHÚNG SANH

    TRONG CÁC

    ĐỊA NGỤC

    , ĐAO BINH, ĐỒNG PHỦ V.V…

  • ·

    Chương 31

    LỄ PHẬT

    THẾ

    CHÚNG SANH

    TRONG CÁC

    ĐỊA NGỤC

    HỎA THÀNH

    ĐAO SƠN

    V.V…

  • ·

    Chương 32

    LỄ PHẬT

    THẾ

    CHÚNG SANH

    TRONG ĐƯỜNG NGÃ QUỈ

  • ·

    Chương 33

    LỄ PHẬT

    THẾ

    CHÚNG SANH

    TRONG ĐƯỜNG

    SÚC SANH

  • ·

    Chương 34 VÌ

    SÁU ĐƯỜNG

    CHÚNG SANH

    PHÁT NGUYỆN

  • ·

    Chương 35

    CẢNH TỈNH

    VÔ THƯỜNG

  • ·

    Chương 36

    LỄ PHẬT

    THẾ NGƯỜI LÀM

    CÔNG QUẢ

    Ở CHÙA

  • ·

    Chương 37

    PHÁT NGUYỆN

    HỒI HƯỚNG

    PHÁT NGUYỆN

    HỒI HƯỚNG

    THẾ CHO

    CHÚNG SANH

  • ·

QUYỂN THỨ MƯỜI

  • ·

    Chương 38

    BỒ TÁT

    HỒI HƯỚNG

  • ·

    Chương 39

    PHÁT NGUYỆN

  • ·

    PHÁT NGUYỆN

    VỀ

    NHÃN CĂN

  • ·

    THỨ LẠI

    PHÁT NGUYỆN

    VỀ

    NHĨ CĂN

  • ·

    KẾ ĐỀN NGUYỆN VỀ

    TỈ CĂN

  • ·

    THỨ LẠI

    PHÁT NGUYỆN

    VỀ

    THIỆT CĂN

  • ·

    THỨ LẠI

    PHÁT NGUYỆN

    VỀ

    THÂN CĂN

  • ·

    THỨ LẠI

    PHÁT NGUYỆN

    VỀ

    Ý CĂN

  • ·

    THỨ LẠI

    PHÁT NGUYỆN

    VỀ

    KHẨU NGHIỆP

  • ·

    CHƯ HẠNH

    PHÁP MÔN

  • ·

    PHẦN

    CHÚC LŨY

TÁN PHẬT CHÚ NGUYỆN

LỜI GIỚI THIỆU

Phàm là người sanh trong cõi Dục này, trừ các bực đã

hoàn toàn

giác ngộ

, thì không một ai

tránh khỏi

lỗi lầm

, bởi

ba nghiệp

gây nên.

Các

tội lỗi

dã từ

ba nghiệp

phát sanh, nên người muốn dứt trừ hết

tội lỗi

, tất nhiên phải đem

ba nghiệp

ấy để

sám hối

, thì

tội lỗi

mới được

thanh tịnh

.

Phật dạy:

“Nếu không có

phương pháp

sám hối

thì, tất cả các

Phật tử

không một ai mà được giải thoát”.

Cũng như,

nếu không

nhờ bộ

Lương Hoàng Sám

nầy thì, bà Hy Thị là Hoàng hậu của vua

Lương không

làm sao

thoát khỏi

khổ nạn

được.

Vì thế nên bộ

Lương Hoàng Sám

nầy có một

hiệu lực

mạnh mẽ, làm cho người có

tội lỗi

được

tiêu trừ

, phước lành

tăng trưởng

.

Cảm thấy

sự

phiên dịch

của

Đại đức

Thích

Viên Giác

rất

dày công

phu, nên tôi xin có vài lời

giới thiệu

đến

toàn thể

các

Phật tử

xa gần

hy vọng

rằng, bộ

Lương Hoàng Sám

này được

phổ biến

mười phương

và sẽ đem lại sự

lợi lạc

chung cho tất cả; nếu ai có

tín tâm

thật hành theo.

Cẩn chí

THÍCH THIỆN HÒA

THAY LỜI TỰA

Theo lời tựa trong chánh văn thì bộ

LƯƠNG HOÀNG SÁM

này do

Hòa thượng

Chí Công

biên tập

từ đời Vua

Lương Võ Đế

bên Tầu.

Nguyên Vua

Lương Võ Đế

, có một bà Hoàng hậu yêu quý nhất tên là Hy Thị. Vì được vua yêu quý nên lòng

đố kỵ

của bà ngày càng lên cao; Hy Thị ganh tị các

cung phi

,

độc ác

với

mọi người

và hủy báng

Tam Bảo

. Trong Triều ngoài Quận ai cũng biết Bà Hy Thị là một “quái phi”.

Sau bà nhuốm bệnh nặng, các

lương y

đều

thúc thủ

, bà phải từ trần. Một hôm vào lúc đêm khuya, đang ngồi trong cung tịch mịch. Vua

Lương Võ Đế

nghe tiếng người

kêu van

thảm thiết

.

Dưới

ánh đèn

mờ, Vua

Lương Võ Đế

lạnh cả người, muốn

chạy trốn

, nhưng không được. Vua bèn

lên tiếng

hỏi: “Ngươi là ai mà đêm khuya

thanh vắng

nghiêm mật thế này lại vào đây được?” –

Hoàng đế

ơi! Thiếp đây chính là Hy Thị. Vì quá

độc ác

nên chết rồi thiếp phải đọa làm rắn mãn xà. Ngày đêm

đau khổ

,

thân thể

tanh hôi, vi vẩy đều bị sâu trùng rúc rỉa nhức nhối không thể chịu được.

Nhớ lại tình

cầm sắc

xưa kia

nên thiếp đến đây mong nhờ

Hoàng đế

tìm phương cứu thiếp. Nói rồi biến mất. Nghe xong, Vua

Lương Võ Đế

như thoát cơn

ác mộng

và lòng đau như dao cắt! Ngày mai khi lâm Triều, Vua kể lại chuyện ấy cho bá quan nghe để tìm phương cứu vớt Hy Thị.

Trong số các quan có người đề nghị: Xin cung thỉnh

Hòa thượng

Chí Công

lo việc này. Vua

lương Võ Đế

chấp thuận

.

Hòa thượng

Chí Công

là một

cao tăng

đắc đạo

đương thời. Thể theo lời

thỉnh cầu

của nhà Vua, ngài liền

triệu tập

các

danh tăng

soạn ra

Sám Pháp

này và lập

Đàn tràng

làm

lễ sám hối

cho Hoàng hậu Hy Thị.

Nhà Vua

chí tâm

,

thân hành

lễ bái

. Vài hôm đầu, người ta nghe

có mùi

hương lạ thơm nức, ngào ngạt khắp cả

đạo tràng

.

Lễ tụng đến quyển thứ năm, ngay tại chỗ, trên không trung, Vua

Lương Võ Đế

nghe có tiếng của Hy Thị. Bà

hiện thân

thiên nữ

đẹp đẽ

, nói tiếng ngưởi, tỏ lòng cám ơn

Hòa thượng

Hoàng đế

.

Hy Thị

cho biết

bà đã

thoát nạn

và đã sanh lên

Đao Lợi Thiên

Cung, nhờ

công đức

sám hối

.

Từ đó

Sám Pháp

này được

truyền tụng

khắp nơi, rất thạnh hành.

Bản chánh bằng Hán văn trọn bộ 10 quyển.

Danh hiệu

Phật và lời sám đều rút trong

Tam Tạng

Thánh giáo

Đại thừa

.

Năm 1948 – 1950,

Bồ tát giới

Tuệ Nhuận và một số

đạo hữu

khá đông ở

Bắc việt

đã dịch âm ra Việt văn, thành 2 tập.

Năm 1952, lúc còn

tu học

Phật học viện

Báo quốc

Huế, tôi bắt đầu dịch nghĩa bộ này ra tiếng Việt,

đến nay

mới đủ

cơ duyên

xuất bản.

Tôi nguyện xin nhờ

công đức

phiên dịch

này, hầu mong đền

đáp lại

bốn ơn muôn một và cứu giúp muôn loài phần nào.

Tôi nguyện xin nhờ

công đức

phiên dịch

này, hầu mong giúp hàng

sơ cơ

một

phương pháp

tu hành

giản dị để

cải ác tùng thiện

, để đi

Tây phương

về

Lạc Quốc

.

Tôi nguyện xin nhờ

công đức

phiên dịch

này làm cho người

tu hành

ngày càng

tinh tiến

,

nghiệp chướng

chóng

tiêu trừ

,

thân tâm

thường

an lạc

sở cầu

được như nguyện.

Tôi cũng xin

cầu nguyện

cho tất cả người thấy, người nghe, người hủy báng, người

tùy hỷ

, đều được

lợi lạc

, thoát

khổ não

, và nguyện xin cho tất cả

chúng sanh

xả ly

tà kiến

, biết

sám hối

.

SÁM HỐI

NGHĨA LÀ GÌ?

– Kinh dạy:

– Sám là sám kỳ

tiền khiên

. – Hối là hối kỳ hậu quá.

– Sám là

ăn năn

các việc ác đã làm, thề xin

chừa bỏ

, không dám

tái phạm

.

– Hối là hối cải. Những điều ác chưa làm, sau này xin thề nguyện không bao giờ làm nữa. Bao nhiêu điều thiện xin làm hết.

Chữ Phạn gọi là

Sám ma

; Tàu dịch là

hối quá

; ghép cả hai chữ lại mà đọc là

Sám hối

.

Sám hối

cũng có

sự sám

và là sám.

Sự sám

tức là

thiết lập

Đàn tràng

,

trang nghiêm

Phật tượng

,

cúng dường hương hoa

,

ân cần

đảnh lễ

,

thành khẩn

nguyện cầu

tam nghiệp

như nhất, tỏ bầy

tội lỗi

.

Cầu xin

chư Phật,

chư đại Bồ tát

phóng hào quang

, dùng

thần lực

,

gia hộ

cho kẻ

tu hành

mau

tiêu trừ

nghiệp chướng

, chóng thoát oan khiên, sạch hết

tội lỗi

.

Lý sám là

sám hối

tự tâm

Tội thành do tâm tạo

Tội diệt phải do tâm sám;

Tâm không

thì tội cũng không,

Tội diệt thì tâm cũng diệt.

Tội không,

tâm diệt

thì không còn

gì nữa

sám hối

. Như vậy mới là

chân thật

sám hối

.

Sau khi lạy một lạy, tụng một câu, người

tu hành

nên xét lại

tự tâm

, diệt sạch

vọng tưởng

, quán

lý vô sanh

, phải biết tội do

nhơn duyên

mà thành, thì tội cũng do

nhơn duyên

mà diệt.

Nhơn duyên

là những

điều kiện

tạo nên tội và

phương pháp

sám hối

.

Tội vốn

không thật

có. Vì

không thật

có, nên

chúng ta

có thể chuyển tội thành phước, chuyển khổ thành vui, chuyển mê thành ngộ.

Khi xướng một câu

danh hiệu

Phật,

chúng ta

cần phải

thật hiểu

nghĩa lý

danh hiệu

ấy. Hiểu để

tu tập

, để làm theo những đức tánh cao đẹp của chư Phật.

Ví như

chúng ta

xướng câu. “Nam mô

Phổ Quang

Phật”, thì ít ra

chúng ta

cũng phải hiểu sơ như thế này:

Chúng con xin

kính lễ

(

Nam mô

)

đấng giác ngộ

hoàn toàn

(Phật) đầy đủ đức tánh cao rộng

đẹp đẽ

(Phổ)

sáng suốt

vô biên

(Quang).

Ngoài ra

chúng ta

cũng cần

tìm hiểu

thêm

bản tâm

của

chúng ta

. Tâm của

chúng ta

cũng có những đức tánh cao rộng

đẹp đẽ

như thế.

NAM MÔ

.- Nghĩa là

quy y

,

kính lễ

, v.v…

PHỔ.- Nghĩa là

phổ cập

,

phổ biến

, cùng khắp, không có

giới hạn

, ngoài

thời gian

không gian

, không

phân biệt

người và ta.

Trái lại

Phổ có nghĩa

hàm súc

những đức tánh

từ bi

hỷ xả

với tất cả mọi loài,

mọi vật

, mọi chốn,

mọi nơi

.

Tâm ta cũng có những tánh chất

phổ biến

như thế. Từ nay ta phải sống theo

tiếng gọi

của cõi lòng, không

tiêu cực

tích cực

, không

ích kỷ

vị tha

, không

sân hận

từ bi

, không

xan tham

bố thí

, không tật đố mà

hỷ xả

, không

ngu si

trí huệ

.

QUANG- Nghĩa là

sáng suốt

tuyệt đối

, soi khắp

mười phương

,

thông suốt

ba đời

mà không lìa nơi một niệm. Tội nhơn và

khổ quả

của

chúng sanh

đã gây tạo và sẽ chịu đền trả, từ bao giờ, ở nơi đâu,

nhất nhất

đều

sáng tỏ

,

hiểu biết

hết.

Tâm ta có

tính cách

sáng suốt

như vậy, từ nay trở đi, ta phải hành động, ăn ở theo

tâm tánh

sáng suốt

ấy, không còn

ngu si

mê mờ mà tạo tội nữa.

PHẬT- Là

đấng giác ngộ

hoàn toàn

, ta đang

kính lễ

. Phật cũng tức là tâm

sáng suốt

thanh tịnh

, đầy đủ muôn đức tánh

tốt đẹp

,

trùm khắp

pháp giới

, ra ngoài

thời gian

.

Tâm ta cũng có những khả năng

giác ngộ

, những đức tánh như Phật,

Vậy từ nay trở đi ta phải noi gương Phật, sống cách

sáng suốt

, đầy đủ

đức hạnh

như Phật, không tạo tội nữa.

Đại khái

như thế,

cứ theo

từng

danh hiệu

một mà

quán sát

tự tâm

để

sám hối

.

Lần lần những khả năng

tốt đẹp

trong tâm ta do

sự sám

hối sẽ lưu lộ ra; nào là

từ bi

hỷ xả

,

trí huệ

,

phước đức

hạnh phúc

dồi dào

tuôn ra như nước, mặc sức ta

thọ dụng

.

Người hiểu được và làm được như thế là người

chánh kiến

, không còn bôn ba

chạy theo

ngoại cảnh

, không

tà kiến

quy y

theo

quỉ mị

tà thần.

Người

chánh kiến

chỉ biết

quy y

,

lễ bái

, tôn thờ

đức Phật

tự tâm

, nghe tiếng nói của cõi lòng.

Lễ một

đức Phật

tức là lễ hết thảy

mười phương chư Phật

. Đem

tâm từ

bi

bình đẳng

,

sự lý

viên dung

,

trùng trùng

vô ngại

bái sám

thì lo gì tội không diệt, phước không sanh.

Nếu người không thông lý, cứ y sự mà

tu hành

,

chí tâm

bái sám

thì cũng nhờ được

thần lực

của

Tam bảo

gia hộ

tiêu trừ

nghiệp chướng

, như trong chánh văn đã thuật rõ.

Phật dạy:

“Có hai hạng người mạnh nhất: một là không tạo tội, hai là biết ăn năn”

Phật dạy:

“Nếu không có pháp

sám hối

thì tất cả

đệ tử

Phật không thể giải thoát”.

Nhờ

sám hối

nên

vua A Xà Thế

phạm tội

ngũ nghịch

(giết cha) liền

được giải thoát

.

Ông Trương thiện Hòa

sát sanh

vô số

cũng không đọa

địa ngục

, vì biết

hối hận

.

Có một điều đáng chú ý nhất là

thân nghiệp

khẩu nghiệp

thô tháo bên ngoài dễ trừ. Duy có

ý nghiệp

,

vi tế

bên trong, rất khó diệt. Đến

quả vị

Phật mới hết tham, sân, si.

Do đó người phát

đại tâm

phải

y cứ

vào

sám pháp

đại thừa

mới mong chóng

trừ diệt

được

ba độc

.

Ngài Phổ Hiển

Bồ tát

Trưởng tử

của Phật trên Hội

Hoa Nghiêm

còn phải phát

đại nguyện

. Ngài nguyện

sám hối

mãi

cho đến

cùng tận

đời

vị lai

.

Nếu

phiền não

nghiệp chướng

của

chúng sanh

không

cùng tận

thì

sự sám

hối của Ngài cũng không bao giờ

cùng tận

.

Trong kinh

Viên Giác

, Phật dạy: “Các vị

đại Bồ tát

lúc lập

đạo tràng

an cư

từ 7 ngày

cho đến

21 ngày đầu,

sám hối

nghiệp chướng”.

Trong kinh

Bảo Tích

, Phật dạy: “Hàng ngày nên

đảnh lễ

danh hiệu

35 vị Phật trong kinh ấy mà

sám hối

nghiệp chướng”.

Trong luật thì pháp

sám hối

là một

vấn đề

tối quan trọng, không thể bỏ qua.

Trong luận thì pháp

sám hối

được

giải thích

rõ ràng

quyết định

sám hối

là một việc

cần phải

có của người chơn tu, không thể

thiếu sót

.

Không

sám hối

rất có hại:

Nghiệp chướng

không

tiêu trừ

;

tội lỗi

còn mãi, oan khiên nhiều kiếp theo hoài.

Ngài

Ngộ Đạt

quốc sư

mười đời làm

cao tăng

mà Triệu Thố vẫn còn theo báo mãi.

Như thế dù cầu

hạnh phúc

thế gian

hay

xuất thế gian

,

việc đời

và việc đạo, đều bị trở ngại,

tu chứng

bất thành.

Kinh sách dùng để

sám hối

có rất nhiều: Như bộ

Vạn Phật

, bộ

Tam Thiên Phật

, bộ

Thủy Sám

,

Hồng Danh

sám,

Chuẩn Đề

sám và

Dược Sư

sám v.v…

Nhưng bộ

Lương Hoàng Sám

này lể rõ tội nhơn

khổ quả

, nghe đến ai cũng phải lạnh mình khiếp sợ mà

phát tâm

cải ác tùng thiện

ngay. Bộ này lại có

công năng

diệt trừ

tiền khiên

, oan trái nhiều kiếp, nhiếu đời, đọc đến phải cảm rơi nước mắt. Mỗi chữ, mỗi câu đều nhắm

mục đích

đền trả bốn ơn,

cứu thoát

ba cõi

, thay thế

lục đạo

sám hối

,

cầu nguyện

cho

tam đồ

thoát khỏi

trầm luân

.

Cuối cùng

lại vì tất cả

chúng sanh

phát nguyện

,

hồi hướng

.

Người

tu hành

đọc đến bộ

Lương Hoàng sám

, dù không muốn phát

đại tâm

cũng phải phát, dù không tin

địa ngục

cũng phải hợ

Tam đồ

.

Những người tu

Tịnh Độ

phát tâm

Bồ đề

thường nên tu theo pháp sám này, để mau về

Cực Lạc

.

Có thể nói bộ

Lương Hoàng Sám

này là “bửu bối” riêng của những người cầu

vô thượng đạo

,

phát bồ đề tâm

vậy.

Bộ này có

năng lực

sanh phước

diệt tội

không thể nghĩ bàn.

Trong chánh văn có

bài kệ

tán thán

công đức

sám hối

,

đại ý

như thế này:

Sám vừa cử lên

Tội lỗi

tiêu liền;

Giải được oan trái,

Trừ được

tai ương

;

Thoát khỏi

khổ nạn

,

Phước đức

vô biên

.

Sanh lên Đạo lợi,

Hoặc về

Tây phương

.

Văn

Thủy Sám

cũng nói: “Lúc

nghiệp báo

đến, tội nhơn không thể rúc vào núi đá, lặn xuống đáy nước, bay lên

không gian

hay ẩn núp đâu được. Duy chỉ có nhờ

phương pháp

sám hối

mả thoát được

tai nạn

mau chóng hơn hết, độc nhất vô nhị”.

Sám hối

lợi cho mình, lợi cho người, cho tất cả

tam đồ

,

lục đạo

pháp giới

chúng sanh

.

Công đức

sám hối

nói không cùng nghĩ không tận. Tôi chỉ xin đốt nén hương lòng

cầu xin

Tam bảo

gia hộ

cho tất cả người thấy, người nghe, người ấn tống đồng

phát Bồ đề tâm

, đồng cầu

sám hối

, đồng

hồi hướng công đức

.

NAM MÔ

CẦU

SÁM HỐI

BỒ TÁT MA HA TÁT

Trong lúc

phiên dịch

văn này, tôi không có

hy vọng

gì cao

xa hơn

là giúp cho hàng

sơ cơ

một

phương pháp

tu hành

thiết thực

để về

Tây phương Cực Lạc

.

Do đó, đầu quyển thứ nhất có

nghi thức

khai kinh

thông thường dễ tụng. Cuối quyển thứ mười có

nghi thức

Tịnh độ

, cầu sanh

An dưỡng

làm

tiêu chuẩn

hồi hướng

.

Sau hết tôi xin

chân thành

cảm tạ

chư vị

đại thiện tri thức

trong

Hải hội

chỉ giáo cho tôi những khiếm khuyết, mong sao kỳ tái bản được

hoàn toàn

hơn.

Tôi nguyện xin đem

công đức

này hướng lên

cúng dường

ngôi

Tam bảo

, đức

Quán Thế Âm Bồ tát

, đức

Vô Biên Thân

Bồ tát

, và chư vị

Hộ pháp

đã mật hùy

gia hộ

cho tôi làm một việc mà tôi tưởng tượng tôi không làm được.

Nguyện xin

hồi hướng

lên chư vị

Đại đức

Tăng trong

hiện tại

đã

dìu dắt

tôi

tu hành

.

Ni chúng

bộ V.N. đã

phát tâm

xuất bản giúp tôi; cùng chư vị

thiện nam tín nữ

đã

ủng hộ

tôi nhiều

phương diện

trong lúc

phiên dịch

.

Nguyện xin tất cả đều trọn

thành Phật

đạo.

DỊCH GIẢ: TỲ KHEO THÍCH VIÊN GIÁC

Viết xong tại Tu viên Giác Hải

Điện Nam Hải Quan Âm ở Vạn Giả

Bắc Nha Trang ngày mãn hạ, năm Canh tý 2504 (1960)


Đi nhà Hoàng Sanh gặp toàn Idol


นอกจากการดูบทความนี้แล้ว คุณยังสามารถดูข้อมูลที่เป็นประโยชน์อื่นๆ อีกมากมายที่เราให้ไว้ที่นี่: ดูความรู้เพิ่มเติมที่นี่

Đi nhà Hoàng Sanh gặp toàn Idol

Hoàng Sam Nữ Tử Con Gái Dương Quá Và Tiểu Long Nữ Tái Xuất Giang Hồ | Ỷ Thiên Đồ Long | Clip Hay


👉 Tổng hợp Clip Hay nhất : https://youtube.com/watch?v=S1dNCTGlxGI\u0026list=PLW3CkIq_CINvfoPcawLGsbG2z9jK550B3\u0026index=1\u0026t=0s 👈
👉 Tên phim : Ỷ Thiên Đồ Long 👈
👉 Link Trọn bộ : https://youtube.com/playlist?list=PLNKn8ueKfBA8v_XwhS2XT6LswYak3CTMd 👈
👉 Xem phim hay thì bấm vào đây nè : https://youtube.com/c/ClipHaymmedia/playlists 👈
👉 Tên phim : Ỷ Thiên Đồ Long 👈
👉 Diễn viên : Tô Hữu Bằng , Giả Tịnh Văn ,Thích Tiểu Long,Cao Viên Viên 👈
👉 Nội Dung : Phim nói về Ỷ Thiên Kiếm và Đồ Long Đao. Với niềm tin ai có được hai báu vật đó sẽ làm chủ thiên hạ nên người người đỗ xô vào cuộc chiến tranh giành làm giang hồ dậy lên các cuộc chiến hại nhau. Bên cạnh đó phim Ỷ Thiên Đồ Long Ký 2003 còn đan xen vào các câu chuyện tình đẹp nhưng không kém phần gay cấn. Đó là câu chuyện tình tay ba của Trương Vô Kỵ và hai cô gái Triệu Mẫn và Chu Chỉ Nhược. Trong khi Triệu Mẫn có nét tinh nghịch và chân thành thì Chu Chỉ Nhược lại vì si tình mà nên độc ác vô tâm. Phim Ỷ Thiên Đồ Long Ký 2003 với sự tham gia của dàn diễn viên trẻ đẹp và tài năng Tô Hữu Bằng, Giả Tịnh Văn và Cao Viên Viên. 👈
👉 Đăng kí ngay để đón xem những video mới nhất từ Clip Hay nhé ( Phim Kiếm Hiệp , Phim Võ Thuật , Phim Mới , Phim Hành Động ) 👈
ⒸⓁⒾⓅ ⒽⒶⓎ
cliphay PhimVoThuat PhimHay YThienDoLongKy KimDung TruongVoKy ChuChiNhuoc TrieuMan
CanKhonDaiNaDi TruongTamPhong

Hoàng Sam Nữ Tử Con Gái Dương Quá Và Tiểu Long Nữ Tái Xuất Giang Hồ | Ỷ Thiên Đồ Long | Clip Hay

Cháu Gái Dương Quá Hoàng Sam Nữ Tử Người Duy Nhất Có Thể Đánh Bại Trương Vô Kỵ


Cháu Gái Dương Quá Hoàng Sam Nữ Tử Người Duy Nhất Có Thể Đánh Bại Trương Vô Kỵ

Cháu Gái Dương Quá Hoàng Sam Nữ Tử Người Duy Nhất Có Thể Đánh Bại Trương Vô Kỵ

Bất Ngờ Ca Sĩ Khmer Hoàng Sanh Hát Cùng Hoa Hậu Kim Thoa Cực Thắm Thiết – BOLERO MỚI ĐÉT 2020


Bất Ngờ Ca Sĩ Khmer Hoàng Sanh Hát Cùng Hoa Hậu Kim Thoa Cực Thắm Thiết BOLERO MỚI ĐÉT 2020
►Đăng kí Liveshow Nhạc Bolero: https://goo.gl/EAxtYE\r
Nhạc Bolero 2018 https://youtu.be/j7Ty4F7Vs8U\r
Nhạc Vàng Xưa https://youtu.be/b1nBg34BseM\r
Bolero Ca Sĩ Trẻ https://youtu.be/5zEvU8lWcM\r
Liveshow Bolero https://youtu.be/kZX0A7DYon0\r
●▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬●\r
► HOT PLAYLIST:\r
♫ FULL SHOW “NHẠC TÌNH MUÔN THUỞ” 8 https://youtu.be/t1LPEQuVhQw\r
♫ FULL SHOW DUYÊN PHẬN https://youtu.be/kZX0A7DYon0\r
♫ Liveshow Tình Mẹ Ngọc Sơn https://goo.gl/URwVbd\r
♫ Tuyệt Đỉnh Bolero https://goo.gl/d1gh6S\r
♫ Lk Nhạc Trữ Tình Bolero https://goo.gl/hdXhxw\r
♫ Đỉnh cao Bolero https://goo.gl/Aaw5QW\r
\r
♫ Tổng Hợp Bằng Kiều: https://goo.gl/XJ0JXa\r
♫ Tổng Hợp Quang Dũng: https://goo.gl/Pl2zZl\r
♫ Tổng Hợp Mỹ Tâm: https://goo.gl/z4kMVm\r
\r
♫ Hoa Hậu Kim Thoa Bolero https://goo.gl/XEtEbJ\r
♫ Quỳnh Như Quán Quân solo cùng Bolero https://goo.gl/Yg6PgD\r
♫ Mỹ Nữ Hoàng Thúy Hằng Bolero https://goo.gl/m6T9th\r
♫ Ca sĩ Xinh Đẹp Thanh Thư Bolerohttps://goo.gl/6W8MfJ\r
♫ Mỹ Nhân Ngọc Diệu Bolero https://goo.gl/VDW4HR\r
♫ Bolero Ngọc Thảo https://goo.gl/nXQXqB\r
♫ Soái Ca Bolero Nhật Duy https://goo.gl/MH1VQL\r
♫ Phạm Thái Bolero https://goo.gl/31FZzC\r
●▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬●\r
♫ CHÚC CÁC BẠN NGHE NHẠC VUI VẺ ♫\r
\r
Copyright © .\r
Email: [email protected]\r
\r
ĐăngKýKênhXemNgay nhacbolero liveshowbolero

Bất Ngờ Ca Sĩ Khmer Hoàng Sanh Hát Cùng Hoa Hậu Kim Thoa Cực Thắm Thiết - BOLERO MỚI ĐÉT 2020

Kinh Sám Hối Khẩu Nghiệp _ HT. Thích Trí Thoát #Mới


Kinh Sám Hối Khẩu Nghiệp HT.Thích Trí Thoát trì tụng.
Tụng kinh phật giáo hay mời các bạn quý phật tử cùng nghe
Chúc các bạn và quý đạo hữu luôn hoan hỷ, an lạc
Đăng ký để theo dõi những video mới nhất https://goo.gl/QMjLsE

Kinh Sám Hối Khẩu Nghiệp _ HT. Thích Trí Thoát #Mới

นอกจากการดูบทความนี้แล้ว คุณยังสามารถดูข้อมูลที่เป็นประโยชน์อื่นๆ อีกมากมายที่เราให้ไว้ที่นี่: ดูบทความเพิ่มเติมในหมวดหมู่BẤT ĐỘNG SẢN

ขอบคุณมากสำหรับการดูหัวข้อโพสต์ hoàng sam

READ  Cho thuê căn hộ Times city | cho thue times city

Viết một bình luận